20 March, 2013
Thông báo chuyển nhà :)
Xin mời bạn hữu gần xa, những khách qua đường thân ái ghé chơi nhà mới của chủ nhân blog này nhé.
Các bạn có thể vào nhà tôi từ cả cửa trước lẫn cửa sau:D
www.nhathuyen.com
www.junglepoetry.wordpress.com
Kính báo
----thơ ca rừng rú----
08 August, 2011
CHỐNG CÁCH TÂN
Trần Nhã Thụy có một kiểu viết tưởng không khó đọc, nhưng lại kén độc giả, đúng hơn là “kén tâm trạng đọc” của độc giả. Một kiểu viết không đập ngay vào trí não từ những chữ đầu tiên, không làm sửng sốt, thán phục ngay, không khiêu khích, lại cần đọc chậm và kĩ, đôi lúc đọc cũng muốn “sốt ruột”.
Tôi từng đọc “Sự trở lại của vết xước”, một ít tạp văn trong “Cuộc đời vui quá không buồn được”, một đôi truyện trong “Chàng trẻ măng ở phố treo đầu” với tâm thế nhẹ nhàng. Vài cuốn sách của Trần Nhã Thụy mà tôi có nằm đâu đó im vắng như bao con người ta không đủ cơ hội biết tới trong cuộc sống. Tôi cứ hình dung một kẻ lạc giữa phố mà suy tư mãi, kẻ lạc giữa phố mà lại phải/vẫn bám vào phố để sống, như thể hắn phải tập luyện cách đi chậm lại để lắng nghe mình sống, để tìm những khoảng vắng của mình.
Mấy năm trước, quả tôi không có tâm trạng đọc kiểu văn chương chậm rãi như thế. Những người viết trẻ thường thích những vẻ dị biệt, càng dị biệt, quái, lạ càng dễ làm họ phấn khích.
Thật lâu sau tôi mới đọc văn chương Trần Nhã Thụy, cả truyện ngắn, cả tản văn, như một thứ quà tặng của thưởng thức. Lần đầu đọc “Băng đầu trọc” (trong tập truyện ngắn Mùi), tôi có cảm giác về sự “phát hiện” một tác giả. Tôi khoái cái đầu trọc của thằng nhỏ chìa ra ngoài trời mưa, cái tông đơ của gã thợ hớt tóc lướt trên đầu mà mỗi lướt đi như một “cú thoát” nhẹ bỗng. Khi không đợi được ngạc nhiên, tôi lại được ngạc nhiên. Tôi nghĩ một nhà văn có thể cho ra đời những cuốn sách không thật khác trước, mà vẫn đáng được đón nhận.
***
Quan trọng với một người viết là nhu cầu tìm kiếm cái bản ngã thực sự của mình – ai cũng có thể nói vậy, nhưng kẻ nào làm chủ được cuộc tìm kiếm đó? Ai là kẻ kiên nhẫn để tìm một con đường làm chủ được sự tìm kiếm đó? Tôi cho rằng đó là một điều thiết yếu với mỗi cá nhân người cầm bút. Tất nhiên, có thể phải loại ra những kiểu văn chương không thật sự cần đến cái bản ngã của người viết: những kiểu truyện cần óc tổ chức, trí thông minh hơn là bản ngã, như trinh thám, và những dạng thức của văn chương tuyên truyền/giáo….
Với một tâm thế đọc khác xưa, tôi đọc tập Mùi một cách thích thú, như tự nhiên đi lạc vào vùng gió trời, tự nhiên được thưởng thức một thứ của nả ý vị. Những truyện ngắn trong Mùi tặng người đọc nhiều khoảng vắng, những khoảng vắng ắt là cách đưa hắn/ta đến gần hơn với văn chương. Lúc này, tôi nghĩ lại “vết xước”, sự trở lại của/với vết xước ắt có thể đọc như một ẩn dụ hay, dù tôi không thật hứng thú với việc sắp đặt các ẩn dụ (cụm từ “sự trở lại” làm cho ẩn dụ này điệu đà hơn, bớt bay nhảy ngẫu hứng). “Vết xước“ là cuộc đi tìm những dấu tích, những phế liệu của tâm hồn, có thể lại là cái chúng ta cần thiết hơn hết. Cái khéo léo của các trang viết làm tôi bớt thích, nhưng tôi yêu vẻ âm u, chất mơ mộng thầm kín, nỗi sầu muộn cố hữu mà không cảm thương, những hoài niệm tuổi thơ và tuổi trẻ không dứt song hành với niềm yêu mến và cái cười mỉm với hiện tại chìm lắng nơi trang văn Trần Nhã Thụy, như là một thứ linh hồn của câu chữ, như là bản tính con người muôn thuở nơi ta được giữ lại trong đó. Giá chúng biểu hiện ra đôi lúc vụng về hơn, bồng bột hơn, có lẽ tôi sẽ nhớ thương chúng hơn. Có thể có cảm giác là Trần Nhã Thụy hơi mơ hồ, không “ráo riết” tận cùng, không có vẻ dấn thân quyết liệt, cả dáng vẻ những cuốn sách cũng… lặng lặng lẽ lẽ. Nhưng cái vẻ lành hiền phủ lên trên văn chương Trần Nhã Thụy, ở khía cạnh nào đó, tiết lộ lòng “yếu đuối” nghệ sĩ trước những khoảnh khắc được phát hiện bất ngờ trong đời sống, thường gặp ở những kẻ mơ mộng về một tình yêu rất lâu và rất sâu những cái đẹp trừu tượng vốn quyến rũ những tâm hồn trẻ; văn chương của những kẻ mơ mộng thường không thời thượng, hay là ngay cả khi thời thế đổi thay, người này người kia giẫy mình lột xác, thì kẻ đó, dù cũng quẫy đạp, cũng bức bối nhưng lại không nỡ bỏ đi cái mộng mơ thầm kín vốn dĩ của bản tính mình.
Tôi nghĩ rằng phải rất kĩ lưỡng với chính mình thì mới có thể sống lơ đãng mà giàu có. Cũng vậy, phải ăn nằm với văn chương đến mức đá vàng thì những nguồn sống ấy mới trôi chảy được trong cái vẻ tự nhiên của câu văn. Đó dường như là cách Trần Nhã Thụy tìm mình trong khi tìm đến cái “tự tính” của đời sống. Cái thì hiện tại với các lát cắt (gợi đến những cách viết truyện ngắn khá “cổ điển”) như cách Trần Nhã Thụy thường đưa người đọc tham dự vào các câu chuyện của mình, tôi nghĩ cũng là một cách làm hiển hiện cái đời sống ở dạng thuần giản chắt lọc. Như thể anh đã tìm được cách yêu cái số phận của mình, cái trời cho mình nên ung dung tự thích. Dù tôi không thật tin một người còn trẻ, lại viết văn, lại dễ dàng mất đi cái nóng nảy, cái bức bối, cái ngột ngạt… Khi đến độ tiêu dao, người ta ắt sẽ không màng tới văn chương nữa mà văn chương vẫn tự đến - đó là một hình ảnh viên mãn đầy chất mơ tưởng.
Tôi thích hình dung những người đang đi trên con đường văn chương với nhiều thất bại, nhiều cao vọng, nhiều ngột ngạt, nhiều vết xước nhưng vẫn thích thú mà đi, hồn nhiên mà đi; đi lúc chậm chậm lúc cuống quýt chạy lúc ngã nhào lúc nằm không bên đường, nhưng vẫn cứ đi theo một tiếng gọi nào mình chưa đến được. Mỗi cuốn sách ra đời trên hành trình đó, ắt là cái bóng của cái bóng của một giọng nói của kẻ viết.
***
Truyện ngắn chắc chắn là một trong những thể loại thách thức. Một người đọc sẽ dễ dàng nhận ra một truyện ngắn – giả mạo, một kẻ giả danh truyện ngắn, hay một cách gọi tên nào đó tương tự. Tôi nghĩ, tiểu thuyết dễ mạo danh/ngộ nhận hơn và có thể dễ được chấp nhận hơn. Người đọc dư sức đọc chơi chơi một tiểu thuyết dài, nhưng chưa chắc đã vượt qua được nỗi ngại đọc một truyện ngắn vài nghìn từ, thậm chí vài trăm từ. Vậy thì cái bí mật của truyện ngắn nằm ở đâu? Khi tôi đọc lại những truyện ngắn/cực ngắn đã viết khá “hồn nhiên” của mình, hay nhớ lại sự khó nhọc để cho ra đời một mẩu ngắn mấy chục chữ hay nghìn chữ, tôi đã phải nghĩ về câu hỏi đó thường trực hơn, để bận tâm hơn về bút pháp, hay “nghệ thuật viết”. Tôi đi đến kết luận: mỗi người viết truyện ngắn phải tìm ra một bí mật của riêng mình, phù hợp với cái tạng viết của mình. Ở văn phong. Ở ngôn ngữ. Ở cách kết cấu. Ở vùng chủ đề ám ảnh. Ở câu chữ. Ở các dấu câu. Vân vân. Ở tất cả những gì có thể. Nó là thể loại tuyệt đối tự do, mời gọi, và đầy thách thức.
Tôi tin Trần Nhã Thụy đã tìm ra một thứ bí mật của riêng mình khi viết truyện ngắn. Anh kể cứ như không những chuyện thường tình có, bất thường có, sắp đặt có, vu vơ có. Những câu chuyện tự nó như trăng chảy trên đồng cỏ, lênh láng mà vẫn nguyên vẹn, tan loãng mà không tan biến mất. Đó là cảm giác của tôi khi đọc những truyện tôi thích hơn cả ở tập Mùi: Băng đầu trọc, Những kẻ câu đêm, Dưới cơn mưa tầm tã. Cũng chính ở đây, cái thực, rất thực, rất đời thường lại trở nên phi thực, ảo ảnh, dù ngôn ngữ và câu chuyện của Trần Nhã Thụy không đi sâu vào thế giới ẩn ức, cũng không chủ ý tạo dựng cái phi thực, cái siêu nhiên. Cái không khí hư thực đó không dễ cảm, dễ phân tích ra, chỉ có lúc nào đó tự nhiên ta chuồi vào, bồng bềnh không ngờ. Như khi lạc vào một bài Đường thi đầy sương, khói, lửa đèn, tiếng chuông mà vắng người, dù người vẫn đâu đó, nhưng là bài Đường thi “hiện đại”,thường mang theo nỗi hoảng hốt bất an về kiếp người và những cú chém ngẫu nhiên của định mệnh dưới “những cơn mưa tầm tã”… (Tôi cũng có cảm giác tương tự khi đọc truyện Làng quê thì mênh mông của Ngô Phan Lưu.) Cái chất “ảo” mà không ”diệu” đó, tôi nghĩ, nó thoát bay ra từ bản tính tâm hồn của một kẻ hay chú ý vào cái tiểu tiết, kẻ có thể nhìn thấy bầu trời trong giọt nước, thấy hình Mị Nương dưới đáy chén trà, thấy trời lộn ngược. Do đó, nhân vật của Trần Nhã Thụy không phải là những “mẫu hình”, cũng không phải những biểu tượng mà giống như các phát hiện hư thực về đời sống thường nhật: chàng bán mía thành người nghệ sĩ thực thụ, anh chàng trẻ măng nằm dài trên xe máy sở hữu cả một góc trời riêng, gã đàn ông dành hàng giờ để đèo con đạp xe lòng vòng và vui với mấy thứ rau càng cua mọc dại nơi sắp mọc lên những biệt thự khang trang, một tay nhà văn phải lòng và chung sống với một cô nàng vì “cái rổ quýt vàng ươm rất đẹp”, mất nàng vì cái tật đặt sách lên bụng hàng đêm và lại có lại được nàng khi quấn quit da thịt nhau trên cỏ thơm trong tiếng cá quẫy vào mặt nước đen thẫm đâu đó khi những kẻ câu đêm như biến mất hoàn toàn… Truyện ngắn Trần Nhã Thụy thường ghim vào người đọc một chi tiết, một cảm giác. Dù có câu chuyện, và nhiều khi câu chuyện khá dài dòng, thì (may sao) chúng cũng dễ dàng tan loãng đi cùng với chữ nghĩa, hay lui xuống bình diện quan trọng thứ mấy, thứ mấy…
***
Tôi đã nghe nhiều người đặt dấu hỏi thất vọng về văn học Việt bây giờ. Kì thực, tôi tin rằng bất cứ người viết/người đọc nào quan tâm đọc văn học Việt Nam, ắt đều phải là những người cực kì kiên nhẫn. Kiên nhẫn để lọc ra đôi chút gì đáng chờ đợi, đáng hi vọng trong một không gian hỗn độn. Rồi lại kiên nhẫn để đi cùng, chờ đợi cùng những chút hi vọng đó những gì đáng để chờ đợi hơn, hi vọng hơn. Kiên nhẫn để nhìn thấy một mạch đi cũng đầy nhẫn nại của những người viết.
Khi đã bớt đi những cảm xúc/suy nghĩ nóng nảy, hồ đồ, tôi không thấy phải bận bịu với những hiện tượng ồn ào và nhận ra còn nhiều người viết văn khác đang miệt mài tìm lối đi trong văn xuôi: Nguyễn Vĩnh Nguyên, Vũ Đình Giang, Nguyễn Ngọc Thuần, Nguyễn Nguyên Phước, Hoàng Long và tất nhiên, Trần Nhã Thụy, và chắc chắn còn những người khác nữa. Thực ra, họ đã ở một thế hệ khác tôi, chỉ cách nhau trên dưới mười năm nhưng nhu cầu về văn chương chưa chắc là cái gì san sẻ được. Tôi vẫn muốn đợi, muốn tìm những người cùng“tìm một cái gì đó” của thế hệ mình.
Luôn có thật ít ỏi những kẻ tìm đường thực sự (dù thất bại hay thành công). Bao nhiêu từ ngữ đầy mới mẻ, khơi gợi và kích thích, như các kĩ thuật, những trò chơi ngôn ngữ, hậu hiện đại… nhanh chóng (có lẽ bị chính cộng đồng viết và đọc) biến thành những chiếc áo bạc màu xấu xí, xơ xác, hay mang vẻ lấp lánh hời hợt. Đu mình vào các khái niệm công cụ thì sẽ chỉ là là bay hoặc bị dúi xuống, chứ rất khó lên cao. Mặc dù yêu chuộng mọi kiếm tìm, tôi đôi lúc lại chỉ muốn xướng to lên (với tôi là một thói không thật hay): chống-cách tân, anti-cách tân, ngừng cách tân, thà như một kẻ bảo thủ tuyệt đối, một con ếch khư khư sung sướng với bầu trời miệng giếng của mình. Bởi tôi nghe thấy nhiều tiếng còi báo động giả về cách tân trong văn học Việt.
Mãi gần đây tôi mới đọc William Saroyan. Truyện “Chàng tuổi trẻ trên chiếc đu bay” từ lâu lắm cứ nằm trên giá sách. Tôi nghĩ đây là nhà văn yêu mến của Trần Nhã Thụy, (liên tưởng vu vơ vì anh có một tập truyện có cái tên thú vị “Chàng trẻ măng ở phố treo đầu” ). Nhân vật của anh cũng thường là tay nhà văn nhàn rỗi đi cùng những đứa trẻ con để kể những chuyện tưởng vu vơ về cuộc đời, kì thực lại là một cách chiêm ngắm đời sống với “trái tim ở miền cao nguyên”.
Có cảm giác Trần Nhã Thụy đã đủ điềm tĩnh để học và đón nhận nhiều kiểu văn chương khác nhau và khác mình, mà cũng không cần nóng nảy luống cuống tìm bằng được những cách thức làm mới. Văn chương anh đáng được mến yêu và thưởng thức. Chính ở chỗ này, tôi đã thấy văn chương cần thoát ra ngoài mọi quy ước thít buộc nó, thậm chí cần thoát ra ngoài cả nỗi day dứt về việc tìm cái mới. Nếu cứ day dứt mãi, có thể chúng ta sẽ chẳng tìm được gì thêm nữa.
Bây giờ, tôi tin là Trần Nhã Thụy có lí. Tôi nghĩ rằng mỗi người viết cũng cần cảnh giác chính mình với cái gọi là “lột xác”, nhất là lột xác để làm mới.
H. 29/07/2011
.
Nhã Thuyên
Tôi từng đọc “Sự trở lại của vết xước”, một ít tạp văn trong “Cuộc đời vui quá không buồn được”, một đôi truyện trong “Chàng trẻ măng ở phố treo đầu” với tâm thế nhẹ nhàng. Vài cuốn sách của Trần Nhã Thụy mà tôi có nằm đâu đó im vắng như bao con người ta không đủ cơ hội biết tới trong cuộc sống. Tôi cứ hình dung một kẻ lạc giữa phố mà suy tư mãi, kẻ lạc giữa phố mà lại phải/vẫn bám vào phố để sống, như thể hắn phải tập luyện cách đi chậm lại để lắng nghe mình sống, để tìm những khoảng vắng của mình.
Mấy năm trước, quả tôi không có tâm trạng đọc kiểu văn chương chậm rãi như thế. Những người viết trẻ thường thích những vẻ dị biệt, càng dị biệt, quái, lạ càng dễ làm họ phấn khích.
Thật lâu sau tôi mới đọc văn chương Trần Nhã Thụy, cả truyện ngắn, cả tản văn, như một thứ quà tặng của thưởng thức. Lần đầu đọc “Băng đầu trọc” (trong tập truyện ngắn Mùi), tôi có cảm giác về sự “phát hiện” một tác giả. Tôi khoái cái đầu trọc của thằng nhỏ chìa ra ngoài trời mưa, cái tông đơ của gã thợ hớt tóc lướt trên đầu mà mỗi lướt đi như một “cú thoát” nhẹ bỗng. Khi không đợi được ngạc nhiên, tôi lại được ngạc nhiên. Tôi nghĩ một nhà văn có thể cho ra đời những cuốn sách không thật khác trước, mà vẫn đáng được đón nhận.
***
Quan trọng với một người viết là nhu cầu tìm kiếm cái bản ngã thực sự của mình – ai cũng có thể nói vậy, nhưng kẻ nào làm chủ được cuộc tìm kiếm đó? Ai là kẻ kiên nhẫn để tìm một con đường làm chủ được sự tìm kiếm đó? Tôi cho rằng đó là một điều thiết yếu với mỗi cá nhân người cầm bút. Tất nhiên, có thể phải loại ra những kiểu văn chương không thật sự cần đến cái bản ngã của người viết: những kiểu truyện cần óc tổ chức, trí thông minh hơn là bản ngã, như trinh thám, và những dạng thức của văn chương tuyên truyền/giáo….
Với một tâm thế đọc khác xưa, tôi đọc tập Mùi một cách thích thú, như tự nhiên đi lạc vào vùng gió trời, tự nhiên được thưởng thức một thứ của nả ý vị. Những truyện ngắn trong Mùi tặng người đọc nhiều khoảng vắng, những khoảng vắng ắt là cách đưa hắn/ta đến gần hơn với văn chương. Lúc này, tôi nghĩ lại “vết xước”, sự trở lại của/với vết xước ắt có thể đọc như một ẩn dụ hay, dù tôi không thật hứng thú với việc sắp đặt các ẩn dụ (cụm từ “sự trở lại” làm cho ẩn dụ này điệu đà hơn, bớt bay nhảy ngẫu hứng). “Vết xước“ là cuộc đi tìm những dấu tích, những phế liệu của tâm hồn, có thể lại là cái chúng ta cần thiết hơn hết. Cái khéo léo của các trang viết làm tôi bớt thích, nhưng tôi yêu vẻ âm u, chất mơ mộng thầm kín, nỗi sầu muộn cố hữu mà không cảm thương, những hoài niệm tuổi thơ và tuổi trẻ không dứt song hành với niềm yêu mến và cái cười mỉm với hiện tại chìm lắng nơi trang văn Trần Nhã Thụy, như là một thứ linh hồn của câu chữ, như là bản tính con người muôn thuở nơi ta được giữ lại trong đó. Giá chúng biểu hiện ra đôi lúc vụng về hơn, bồng bột hơn, có lẽ tôi sẽ nhớ thương chúng hơn. Có thể có cảm giác là Trần Nhã Thụy hơi mơ hồ, không “ráo riết” tận cùng, không có vẻ dấn thân quyết liệt, cả dáng vẻ những cuốn sách cũng… lặng lặng lẽ lẽ. Nhưng cái vẻ lành hiền phủ lên trên văn chương Trần Nhã Thụy, ở khía cạnh nào đó, tiết lộ lòng “yếu đuối” nghệ sĩ trước những khoảnh khắc được phát hiện bất ngờ trong đời sống, thường gặp ở những kẻ mơ mộng về một tình yêu rất lâu và rất sâu những cái đẹp trừu tượng vốn quyến rũ những tâm hồn trẻ; văn chương của những kẻ mơ mộng thường không thời thượng, hay là ngay cả khi thời thế đổi thay, người này người kia giẫy mình lột xác, thì kẻ đó, dù cũng quẫy đạp, cũng bức bối nhưng lại không nỡ bỏ đi cái mộng mơ thầm kín vốn dĩ của bản tính mình.
Tôi nghĩ rằng phải rất kĩ lưỡng với chính mình thì mới có thể sống lơ đãng mà giàu có. Cũng vậy, phải ăn nằm với văn chương đến mức đá vàng thì những nguồn sống ấy mới trôi chảy được trong cái vẻ tự nhiên của câu văn. Đó dường như là cách Trần Nhã Thụy tìm mình trong khi tìm đến cái “tự tính” của đời sống. Cái thì hiện tại với các lát cắt (gợi đến những cách viết truyện ngắn khá “cổ điển”) như cách Trần Nhã Thụy thường đưa người đọc tham dự vào các câu chuyện của mình, tôi nghĩ cũng là một cách làm hiển hiện cái đời sống ở dạng thuần giản chắt lọc. Như thể anh đã tìm được cách yêu cái số phận của mình, cái trời cho mình nên ung dung tự thích. Dù tôi không thật tin một người còn trẻ, lại viết văn, lại dễ dàng mất đi cái nóng nảy, cái bức bối, cái ngột ngạt… Khi đến độ tiêu dao, người ta ắt sẽ không màng tới văn chương nữa mà văn chương vẫn tự đến - đó là một hình ảnh viên mãn đầy chất mơ tưởng.
Tôi thích hình dung những người đang đi trên con đường văn chương với nhiều thất bại, nhiều cao vọng, nhiều ngột ngạt, nhiều vết xước nhưng vẫn thích thú mà đi, hồn nhiên mà đi; đi lúc chậm chậm lúc cuống quýt chạy lúc ngã nhào lúc nằm không bên đường, nhưng vẫn cứ đi theo một tiếng gọi nào mình chưa đến được. Mỗi cuốn sách ra đời trên hành trình đó, ắt là cái bóng của cái bóng của một giọng nói của kẻ viết.
***
Truyện ngắn chắc chắn là một trong những thể loại thách thức. Một người đọc sẽ dễ dàng nhận ra một truyện ngắn – giả mạo, một kẻ giả danh truyện ngắn, hay một cách gọi tên nào đó tương tự. Tôi nghĩ, tiểu thuyết dễ mạo danh/ngộ nhận hơn và có thể dễ được chấp nhận hơn. Người đọc dư sức đọc chơi chơi một tiểu thuyết dài, nhưng chưa chắc đã vượt qua được nỗi ngại đọc một truyện ngắn vài nghìn từ, thậm chí vài trăm từ. Vậy thì cái bí mật của truyện ngắn nằm ở đâu? Khi tôi đọc lại những truyện ngắn/cực ngắn đã viết khá “hồn nhiên” của mình, hay nhớ lại sự khó nhọc để cho ra đời một mẩu ngắn mấy chục chữ hay nghìn chữ, tôi đã phải nghĩ về câu hỏi đó thường trực hơn, để bận tâm hơn về bút pháp, hay “nghệ thuật viết”. Tôi đi đến kết luận: mỗi người viết truyện ngắn phải tìm ra một bí mật của riêng mình, phù hợp với cái tạng viết của mình. Ở văn phong. Ở ngôn ngữ. Ở cách kết cấu. Ở vùng chủ đề ám ảnh. Ở câu chữ. Ở các dấu câu. Vân vân. Ở tất cả những gì có thể. Nó là thể loại tuyệt đối tự do, mời gọi, và đầy thách thức.
Tôi tin Trần Nhã Thụy đã tìm ra một thứ bí mật của riêng mình khi viết truyện ngắn. Anh kể cứ như không những chuyện thường tình có, bất thường có, sắp đặt có, vu vơ có. Những câu chuyện tự nó như trăng chảy trên đồng cỏ, lênh láng mà vẫn nguyên vẹn, tan loãng mà không tan biến mất. Đó là cảm giác của tôi khi đọc những truyện tôi thích hơn cả ở tập Mùi: Băng đầu trọc, Những kẻ câu đêm, Dưới cơn mưa tầm tã. Cũng chính ở đây, cái thực, rất thực, rất đời thường lại trở nên phi thực, ảo ảnh, dù ngôn ngữ và câu chuyện của Trần Nhã Thụy không đi sâu vào thế giới ẩn ức, cũng không chủ ý tạo dựng cái phi thực, cái siêu nhiên. Cái không khí hư thực đó không dễ cảm, dễ phân tích ra, chỉ có lúc nào đó tự nhiên ta chuồi vào, bồng bềnh không ngờ. Như khi lạc vào một bài Đường thi đầy sương, khói, lửa đèn, tiếng chuông mà vắng người, dù người vẫn đâu đó, nhưng là bài Đường thi “hiện đại”,thường mang theo nỗi hoảng hốt bất an về kiếp người và những cú chém ngẫu nhiên của định mệnh dưới “những cơn mưa tầm tã”… (Tôi cũng có cảm giác tương tự khi đọc truyện Làng quê thì mênh mông của Ngô Phan Lưu.) Cái chất “ảo” mà không ”diệu” đó, tôi nghĩ, nó thoát bay ra từ bản tính tâm hồn của một kẻ hay chú ý vào cái tiểu tiết, kẻ có thể nhìn thấy bầu trời trong giọt nước, thấy hình Mị Nương dưới đáy chén trà, thấy trời lộn ngược. Do đó, nhân vật của Trần Nhã Thụy không phải là những “mẫu hình”, cũng không phải những biểu tượng mà giống như các phát hiện hư thực về đời sống thường nhật: chàng bán mía thành người nghệ sĩ thực thụ, anh chàng trẻ măng nằm dài trên xe máy sở hữu cả một góc trời riêng, gã đàn ông dành hàng giờ để đèo con đạp xe lòng vòng và vui với mấy thứ rau càng cua mọc dại nơi sắp mọc lên những biệt thự khang trang, một tay nhà văn phải lòng và chung sống với một cô nàng vì “cái rổ quýt vàng ươm rất đẹp”, mất nàng vì cái tật đặt sách lên bụng hàng đêm và lại có lại được nàng khi quấn quit da thịt nhau trên cỏ thơm trong tiếng cá quẫy vào mặt nước đen thẫm đâu đó khi những kẻ câu đêm như biến mất hoàn toàn… Truyện ngắn Trần Nhã Thụy thường ghim vào người đọc một chi tiết, một cảm giác. Dù có câu chuyện, và nhiều khi câu chuyện khá dài dòng, thì (may sao) chúng cũng dễ dàng tan loãng đi cùng với chữ nghĩa, hay lui xuống bình diện quan trọng thứ mấy, thứ mấy…
***
Tôi đã nghe nhiều người đặt dấu hỏi thất vọng về văn học Việt bây giờ. Kì thực, tôi tin rằng bất cứ người viết/người đọc nào quan tâm đọc văn học Việt Nam, ắt đều phải là những người cực kì kiên nhẫn. Kiên nhẫn để lọc ra đôi chút gì đáng chờ đợi, đáng hi vọng trong một không gian hỗn độn. Rồi lại kiên nhẫn để đi cùng, chờ đợi cùng những chút hi vọng đó những gì đáng để chờ đợi hơn, hi vọng hơn. Kiên nhẫn để nhìn thấy một mạch đi cũng đầy nhẫn nại của những người viết.
Khi đã bớt đi những cảm xúc/suy nghĩ nóng nảy, hồ đồ, tôi không thấy phải bận bịu với những hiện tượng ồn ào và nhận ra còn nhiều người viết văn khác đang miệt mài tìm lối đi trong văn xuôi: Nguyễn Vĩnh Nguyên, Vũ Đình Giang, Nguyễn Ngọc Thuần, Nguyễn Nguyên Phước, Hoàng Long và tất nhiên, Trần Nhã Thụy, và chắc chắn còn những người khác nữa. Thực ra, họ đã ở một thế hệ khác tôi, chỉ cách nhau trên dưới mười năm nhưng nhu cầu về văn chương chưa chắc là cái gì san sẻ được. Tôi vẫn muốn đợi, muốn tìm những người cùng“tìm một cái gì đó” của thế hệ mình.
Luôn có thật ít ỏi những kẻ tìm đường thực sự (dù thất bại hay thành công). Bao nhiêu từ ngữ đầy mới mẻ, khơi gợi và kích thích, như các kĩ thuật, những trò chơi ngôn ngữ, hậu hiện đại… nhanh chóng (có lẽ bị chính cộng đồng viết và đọc) biến thành những chiếc áo bạc màu xấu xí, xơ xác, hay mang vẻ lấp lánh hời hợt. Đu mình vào các khái niệm công cụ thì sẽ chỉ là là bay hoặc bị dúi xuống, chứ rất khó lên cao. Mặc dù yêu chuộng mọi kiếm tìm, tôi đôi lúc lại chỉ muốn xướng to lên (với tôi là một thói không thật hay): chống-cách tân, anti-cách tân, ngừng cách tân, thà như một kẻ bảo thủ tuyệt đối, một con ếch khư khư sung sướng với bầu trời miệng giếng của mình. Bởi tôi nghe thấy nhiều tiếng còi báo động giả về cách tân trong văn học Việt.
Mãi gần đây tôi mới đọc William Saroyan. Truyện “Chàng tuổi trẻ trên chiếc đu bay” từ lâu lắm cứ nằm trên giá sách. Tôi nghĩ đây là nhà văn yêu mến của Trần Nhã Thụy, (liên tưởng vu vơ vì anh có một tập truyện có cái tên thú vị “Chàng trẻ măng ở phố treo đầu” ). Nhân vật của anh cũng thường là tay nhà văn nhàn rỗi đi cùng những đứa trẻ con để kể những chuyện tưởng vu vơ về cuộc đời, kì thực lại là một cách chiêm ngắm đời sống với “trái tim ở miền cao nguyên”.
Có cảm giác Trần Nhã Thụy đã đủ điềm tĩnh để học và đón nhận nhiều kiểu văn chương khác nhau và khác mình, mà cũng không cần nóng nảy luống cuống tìm bằng được những cách thức làm mới. Văn chương anh đáng được mến yêu và thưởng thức. Chính ở chỗ này, tôi đã thấy văn chương cần thoát ra ngoài mọi quy ước thít buộc nó, thậm chí cần thoát ra ngoài cả nỗi day dứt về việc tìm cái mới. Nếu cứ day dứt mãi, có thể chúng ta sẽ chẳng tìm được gì thêm nữa.
Bây giờ, tôi tin là Trần Nhã Thụy có lí. Tôi nghĩ rằng mỗi người viết cũng cần cảnh giác chính mình với cái gọi là “lột xác”, nhất là lột xác để làm mới.
H. 29/07/2011
.
Nhã Thuyên
27 May, 2011
Về Kinh Bắc của Hoàng Cầm
Về Kinh Bắc chắc chắn là một trong số không nhiều tập thơ có số phận mà tác giả của nó như vận vào câu thơ Nguyễn Du: “Phong vận kì oan ngã tự cư” - cái án phong lưu lạ lùng ta tự mang lấy. Tôi không đọc nhiều và đọc kĩ lưỡng thơ Hoàng Cầm, nhưng chắc chắn, có những câu, bài ở lại trong những khoảng mộng tưởng ảo diệu nhất của kí ức, những câu thơ như trăng vỡ ra trên mặt sông đêm vô tận ánh sáng lẫn bóng tối.
Tung tóe dội gầu trăng nước giếng
mát lùa kẽ tóc
Còn bùn rủn sẹo ngang sẹo dọc
Vắt áo nghe thầm tiếng vải kêu
(Tắm Đêm)
Về Kinh Bắc là một thi phẩm lạ lùng, gồm 8 nhịp, một hành trình tưởng niệm, một cuộc tuần du về kí ức, một cuộc tế lễ ít nhiều mang màu sắc một vở kịch hay một nghi lễ dân gian. Sự trở về với Kí Ức, truy tìm những gì chân thực nhất như cội nguồn thi ca đưa thi nhân phiêu dạt qua những nẻo mộng, những kiếp đời để “về với ta”, với cái bản nguyên. Nổi bật nhất trong khí quyển thơ này, tôi cảm nhận, không hẳn là không gian văn hóa Kinh Bắc như một vẻ đẹp và huyền thoại ít nhiều hữu hình và được “vật chất hóa” bằng sông, bằng đồng, bằng cây cỏ, bằng các hội hè…mà đúng hơn, một không gian tâm linh nguyên thủy với đêm Thổ, đêm Kim, Mộc, đêm Thủy, đêm Hỏa với kiếp trước, với bến Lú sông Mê, với “nắng phù sa” “gió lông ngỗng”… Có “sương cầu Lim” “Khói Yên Thế” đó, nhưng Yên Thế, Cầu Lim dường như là của “kiếp trước”, là sự hóa thân, là kinh nghiệm không gian của một thi sĩ phương Đông hơn là một vùng văn hóa cụ thể. Có thể chính vì lẽ đó, ở Nhịp Sáu (Điểm Trang), khi thơ đi qua “kiếp trước”, đã “rũ bụi gia phả”, qua ám ảnh cô đơn “Còn Em”, trở về với hội hè – thế giới “vật chất” đời thực, thì dường như mất đi nhiều sự sống của cái ảo diệu phiêu bồng kì lạ kia. Những bài thơ trong phần này mang như một lớp son phấn và thiếu vắng con người.
Thành ra, những bài hay nhất trong Về Kinh Bắc, thậm chí có bài gây ấn tượng về vẻ đẹp toàn bích, đặc biệt trong Nhịp Năm (Còn Em) như: Cây Tam Cúc, Lá Diêu Bông, Quả Vườn Ổi, Cỏ Bồng Thi, Nước sông Thương, Mưa Thuận Thành…là những cuộc phiêu bồng vượt qua kinh nghiệm của hữu thức.
Cách nhau ba bước vào vườn ổi
Chị xoạc cành ngang
Em gốc cây
- Xin Chị một quả chín
- Quả chín quá tầm tay
- Xin chị một quả ương
- Quả ương chim khoét thủng
Lẽo đẽo em đi vườn mai sau
cúi nhặt chiều mưa dăm quả rụng
`(Quả Vườn Ổi)
Thứ quả rụng Em lẽo đẽo nhặt cũng như một hóa thân của tình yêu và thơ ca, mà Em, Kẻ Yêu, Người Thơ sẽ còn đeo đẳng mãi ẩn ức về một sự bất toàn, một khao khát tuyệt vọng. Cách một thi sĩ tìm ra nguồn thơ đích thực nhiều khi là sự phát lộ thế giới hồi ức thơ ấu, đồng thời là cuộc thám hiểm vô thứcc, tiềm thức, điều mà nhà thơ chỉ đi đến tận cùng trong tĩnh lặng, trong cùng quẫn, trong cô đơn, trong âm u. Vậy là, cũng như những người bạn thơ của ông, Hoàng Cầm ngẫu nhiên “được cái hoạn nạn” (chữ của Trần Dần), để con chữ tìm được ra mình. Sau này, Hoàng Cầm thành nhà thơ của quê hương sông Đuống, nhưng cái bản lai diện mục của ông không phải con sông Đuống “nằm nghiêng trong kháng chiến trường kì”, mà có lẽ là thứ nước sông Thương chảy đôi dòng “Em tơ tưởng sao bắt Em đừng nhớ” “Cuốn chiếu xa rồi/thơ thẩn vách chiêm bao”. (Nước sông Thương).
Tôi vẫn chờ đợi được biết nhiều hơn về số phận đoạn trường của tập thơ này, cụ thể hơn của nhiều bài thơ trong tập, nhất là từ phát ngôn của những người chứng. Ra đời trong giai đoạn bi kịch của tác giả sau vụ Nhân Văn – Giai Phẩm, phải đến 34 năm sau mới hiện diện chính thức như một tập thơ (nxb Văn học, 1994), đến 8 năm sau đó nữa xuất hiện lại trong “Hoàng Cầm - Tác phẩm Thơ” do nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân biên soạn (nxb Hội nhà văn – Trung tâm Văn hóa Ngôn Ngữ Đông Tây, 2002), rồi năm 2007, nguyên vẹn tập thơ được giới thiệu trong Tủ sách Talawas với lời tâm sự của tác giả và đến nay, gia tài thơ ông đã sum vầy trọn vẹn hơn trong tuyển thơ Hoàng Cầm “Mắt thời gian” ( NXB Hội nhà văn – Công ty Văn hóa truyền thông Nhã Nam, 2011) cùng cuốn sách về thơ ông “Hoàng Cầm – Hồn thơ độc đáo”, Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây và NXB Hội Nhà văn vừa ấn hành. Có lẽ cũng là hiếm có trong lịch sử người đọc thơ Việt, khi một tập thơ lại gây hệ lụy ân-oán cả với người đọc-người yêu thơ và yêu tự do, như tập Về Kinh Bắc, với “tội” “lưu truyền văn hóa phẩm phản động” của nhà thơ Hoàng Hưng.
Có thể nói, Về Kinh Bắc là tập thơ “thơ” nhất trong đời thơ Hoàng Cầm, một tập thơ không chỉ phát lộ chân dung thơ, mà còn làm lộ ra chân dung những con người với những khoảnh khắc sang-hèn cùng hệ lụy của thời đại, mà bất cứ nghệ sĩ chân chính nào cũng không tránh khỏi nuốt phải những vị đắng. Về Kinh Bắc, do đó, cần được thưởng thức như một tác phẩm nghệ thuật, đồng thời, như một cách để hiểu lại vấn đề còn day dứt của của quá khứ.
Tôi vẫn muốn lật lại những trang giấy cũ, để cảm nhận sâu hơn vẻ đẹp của một nỗi đau và một giấc mộng trong bóng tối. Ở đó, người đọc có thể nhận ra con đường thực sự của thơ, bao giờ cũng là con đường đi hút vào cá nhân mình.
Uống nước mắt con vành khuyên nhớ tổ
vừa rụng chiều nay
dềnh mặt nước huơng xe
Ta soi
chỉ còn ta đạp lùi tinh tú
Ngủ say rồi
đôi cá đòng đong
(Về với ta)
Nhã Thuyên
13.05/2011
Tung tóe dội gầu trăng nước giếng
mát lùa kẽ tóc
Còn bùn rủn sẹo ngang sẹo dọc
Vắt áo nghe thầm tiếng vải kêu
(Tắm Đêm)
Về Kinh Bắc là một thi phẩm lạ lùng, gồm 8 nhịp, một hành trình tưởng niệm, một cuộc tuần du về kí ức, một cuộc tế lễ ít nhiều mang màu sắc một vở kịch hay một nghi lễ dân gian. Sự trở về với Kí Ức, truy tìm những gì chân thực nhất như cội nguồn thi ca đưa thi nhân phiêu dạt qua những nẻo mộng, những kiếp đời để “về với ta”, với cái bản nguyên. Nổi bật nhất trong khí quyển thơ này, tôi cảm nhận, không hẳn là không gian văn hóa Kinh Bắc như một vẻ đẹp và huyền thoại ít nhiều hữu hình và được “vật chất hóa” bằng sông, bằng đồng, bằng cây cỏ, bằng các hội hè…mà đúng hơn, một không gian tâm linh nguyên thủy với đêm Thổ, đêm Kim, Mộc, đêm Thủy, đêm Hỏa với kiếp trước, với bến Lú sông Mê, với “nắng phù sa” “gió lông ngỗng”… Có “sương cầu Lim” “Khói Yên Thế” đó, nhưng Yên Thế, Cầu Lim dường như là của “kiếp trước”, là sự hóa thân, là kinh nghiệm không gian của một thi sĩ phương Đông hơn là một vùng văn hóa cụ thể. Có thể chính vì lẽ đó, ở Nhịp Sáu (Điểm Trang), khi thơ đi qua “kiếp trước”, đã “rũ bụi gia phả”, qua ám ảnh cô đơn “Còn Em”, trở về với hội hè – thế giới “vật chất” đời thực, thì dường như mất đi nhiều sự sống của cái ảo diệu phiêu bồng kì lạ kia. Những bài thơ trong phần này mang như một lớp son phấn và thiếu vắng con người.
Thành ra, những bài hay nhất trong Về Kinh Bắc, thậm chí có bài gây ấn tượng về vẻ đẹp toàn bích, đặc biệt trong Nhịp Năm (Còn Em) như: Cây Tam Cúc, Lá Diêu Bông, Quả Vườn Ổi, Cỏ Bồng Thi, Nước sông Thương, Mưa Thuận Thành…là những cuộc phiêu bồng vượt qua kinh nghiệm của hữu thức.
Cách nhau ba bước vào vườn ổi
Chị xoạc cành ngang
Em gốc cây
- Xin Chị một quả chín
- Quả chín quá tầm tay
- Xin chị một quả ương
- Quả ương chim khoét thủng
Lẽo đẽo em đi vườn mai sau
cúi nhặt chiều mưa dăm quả rụng
`(Quả Vườn Ổi)
Thứ quả rụng Em lẽo đẽo nhặt cũng như một hóa thân của tình yêu và thơ ca, mà Em, Kẻ Yêu, Người Thơ sẽ còn đeo đẳng mãi ẩn ức về một sự bất toàn, một khao khát tuyệt vọng. Cách một thi sĩ tìm ra nguồn thơ đích thực nhiều khi là sự phát lộ thế giới hồi ức thơ ấu, đồng thời là cuộc thám hiểm vô thứcc, tiềm thức, điều mà nhà thơ chỉ đi đến tận cùng trong tĩnh lặng, trong cùng quẫn, trong cô đơn, trong âm u. Vậy là, cũng như những người bạn thơ của ông, Hoàng Cầm ngẫu nhiên “được cái hoạn nạn” (chữ của Trần Dần), để con chữ tìm được ra mình. Sau này, Hoàng Cầm thành nhà thơ của quê hương sông Đuống, nhưng cái bản lai diện mục của ông không phải con sông Đuống “nằm nghiêng trong kháng chiến trường kì”, mà có lẽ là thứ nước sông Thương chảy đôi dòng “Em tơ tưởng sao bắt Em đừng nhớ” “Cuốn chiếu xa rồi/thơ thẩn vách chiêm bao”. (Nước sông Thương).
Tôi vẫn chờ đợi được biết nhiều hơn về số phận đoạn trường của tập thơ này, cụ thể hơn của nhiều bài thơ trong tập, nhất là từ phát ngôn của những người chứng. Ra đời trong giai đoạn bi kịch của tác giả sau vụ Nhân Văn – Giai Phẩm, phải đến 34 năm sau mới hiện diện chính thức như một tập thơ (nxb Văn học, 1994), đến 8 năm sau đó nữa xuất hiện lại trong “Hoàng Cầm - Tác phẩm Thơ” do nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân biên soạn (nxb Hội nhà văn – Trung tâm Văn hóa Ngôn Ngữ Đông Tây, 2002), rồi năm 2007, nguyên vẹn tập thơ được giới thiệu trong Tủ sách Talawas với lời tâm sự của tác giả và đến nay, gia tài thơ ông đã sum vầy trọn vẹn hơn trong tuyển thơ Hoàng Cầm “Mắt thời gian” ( NXB Hội nhà văn – Công ty Văn hóa truyền thông Nhã Nam, 2011) cùng cuốn sách về thơ ông “Hoàng Cầm – Hồn thơ độc đáo”, Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây và NXB Hội Nhà văn vừa ấn hành. Có lẽ cũng là hiếm có trong lịch sử người đọc thơ Việt, khi một tập thơ lại gây hệ lụy ân-oán cả với người đọc-người yêu thơ và yêu tự do, như tập Về Kinh Bắc, với “tội” “lưu truyền văn hóa phẩm phản động” của nhà thơ Hoàng Hưng.
Có thể nói, Về Kinh Bắc là tập thơ “thơ” nhất trong đời thơ Hoàng Cầm, một tập thơ không chỉ phát lộ chân dung thơ, mà còn làm lộ ra chân dung những con người với những khoảnh khắc sang-hèn cùng hệ lụy của thời đại, mà bất cứ nghệ sĩ chân chính nào cũng không tránh khỏi nuốt phải những vị đắng. Về Kinh Bắc, do đó, cần được thưởng thức như một tác phẩm nghệ thuật, đồng thời, như một cách để hiểu lại vấn đề còn day dứt của của quá khứ.
Tôi vẫn muốn lật lại những trang giấy cũ, để cảm nhận sâu hơn vẻ đẹp của một nỗi đau và một giấc mộng trong bóng tối. Ở đó, người đọc có thể nhận ra con đường thực sự của thơ, bao giờ cũng là con đường đi hút vào cá nhân mình.
Uống nước mắt con vành khuyên nhớ tổ
vừa rụng chiều nay
dềnh mặt nước huơng xe
Ta soi
chỉ còn ta đạp lùi tinh tú
Ngủ say rồi
đôi cá đòng đong
(Về với ta)
Nhã Thuyên
13.05/2011
02 July, 2010
những con cánh cam
Đến giờ, tôi không còn (dám/muốn)tin rằng một người có thể dành cả cuộc đời để gặm nhấm một nỗi đau đã chỉ còn là hồi ức về nỗi đau, để mong nhớ mãi mãi một cái gì sẽ không bao giờ đến, để mơ mãi một cơn mơ...
Tôi không thể đặt cược cái gì vào "mãi mãi".
Nhưng người ta có thể dành cả cuộc đời để yêu thương mãi mãi một cái gì đã qua, mà không bao giờ nuối tiếc.
Tôi không thể đặt cược cái gì vào "mãi mãi".
Nhưng người ta có thể dành cả cuộc đời để yêu thương mãi mãi một cái gì đã qua, mà không bao giờ nuối tiếc.
12 June, 2010
Nỗi buồn
Sơ khởi
Nơi hai cá thể bị thiêu trong lò lửa, chúng ta nghe những hơi lửa thì thầm, chúng ta nghe những hơi lửa thì thầm, chúng ta nghe những hơi lửa thì thầm, chúng ta nghe những hơi lửa thì thầm, chúng ta nghe những hơi lửa thì thầm, chúng ta nghe những hơi lửa thì thầm…
6.2010
Nỗi buồn
Trong đêm tối, trong lớp da chật chội của anh, em ngủ trong đó, một tù nhân gầy khô và bình yên.
Em nói những điều phập phồng anh không hiểu, em đợi một lời nguyền, và thật khẽ khàng, trong đêm tối, trong lớp da chật chội của anh, em lách mình qua lớp biểu bì và trốn vào mênh mông sợ hãi.
5/2010
Nơi hai cá thể bị thiêu trong lò lửa, chúng ta nghe những hơi lửa thì thầm, chúng ta nghe những hơi lửa thì thầm, chúng ta nghe những hơi lửa thì thầm, chúng ta nghe những hơi lửa thì thầm, chúng ta nghe những hơi lửa thì thầm, chúng ta nghe những hơi lửa thì thầm…
6.2010
Nỗi buồn
Trong đêm tối, trong lớp da chật chội của anh, em ngủ trong đó, một tù nhân gầy khô và bình yên.
Em nói những điều phập phồng anh không hiểu, em đợi một lời nguyền, và thật khẽ khàng, trong đêm tối, trong lớp da chật chội của anh, em lách mình qua lớp biểu bì và trốn vào mênh mông sợ hãi.
5/2010
10 June, 2010
Chiêm bao
Hiện hữu em
Anh cầm hai bàn tay em nâng lên, đặt lên những nụ hôn cân xứng êm ái và bàn tay em tỏa hương thơm.
Anh nâng hai bàn tay lên cao hơn và kéo dài theo mỗi bước anh đi cho đến khi em chỉ còn là một hơi ánh sáng mỏng manh đến nỗi ở phía rất xa anh chỉ cảm nhận được một mơn man mơ hồ khi toàn cơ thể anh chìm trong bóng tối.
Hiện hữu anh
Em chiêm bao gương mặt anh, anh đứng đó, im lặng như một trò chơi không bao giờ kết thúc
Em chiêm bao lời anh, những lời lặp lại, những lời hôn mãi vành tai áp vào cỏ lẩy bẩy xanh trong tiếng sấm ràm rạp
Em chiêm bao bàn tay anh, những ngón gầy phủ sương của mùa thu, gõ vô hồi tiếng mưa rụng trên tay em
Em chiêm bao cơ thể anh, cơ thể đã ôm xiết em, em chiêm bao cơ thể anh, em chiêm bao cơ thể anh, chiêm bao cơ thể anh
Chúng ta im lặng mãi như một trò chơi không bao giờ kết thúc trong giấc ngủ đã cũ lời anh chỉ còn là tiếng thở khô và lạnh của khuôn ngực nơi quả tim đã bị thời gian và bàn tay hoen ố móc rỗng
08.06.2010
Anh cầm hai bàn tay em nâng lên, đặt lên những nụ hôn cân xứng êm ái và bàn tay em tỏa hương thơm.
Anh nâng hai bàn tay lên cao hơn và kéo dài theo mỗi bước anh đi cho đến khi em chỉ còn là một hơi ánh sáng mỏng manh đến nỗi ở phía rất xa anh chỉ cảm nhận được một mơn man mơ hồ khi toàn cơ thể anh chìm trong bóng tối.
Hiện hữu anh
Em chiêm bao gương mặt anh, anh đứng đó, im lặng như một trò chơi không bao giờ kết thúc
Em chiêm bao lời anh, những lời lặp lại, những lời hôn mãi vành tai áp vào cỏ lẩy bẩy xanh trong tiếng sấm ràm rạp
Em chiêm bao bàn tay anh, những ngón gầy phủ sương của mùa thu, gõ vô hồi tiếng mưa rụng trên tay em
Em chiêm bao cơ thể anh, cơ thể đã ôm xiết em, em chiêm bao cơ thể anh, em chiêm bao cơ thể anh, chiêm bao cơ thể anh
Chúng ta im lặng mãi như một trò chơi không bao giờ kết thúc trong giấc ngủ đã cũ lời anh chỉ còn là tiếng thở khô và lạnh của khuôn ngực nơi quả tim đã bị thời gian và bàn tay hoen ố móc rỗng
08.06.2010
07 June, 2010
Chuyên đề Văn chương phi lí trên Damau
Mời các bạn thưởng thức chuyên đề Văn chương phi lí trên Damau. Tôi không viết được một tác phẩm như ý, nhưng nó cũng khơi cho tôi một cách nhìn về hiện thực có ý nghĩa với tôi.
Vì truyện ngắn của tôi khá dài, sic, nên không đăng lại ở blog.
Mấy cái hình ảnh của Rona Pondick khá sợ. Tuy nhiên, càng viết và càng sống (:D) tôi càng thấy và cảm thấy rằng cái phi lí hoang tưởng nằm sát sạt cạnh mình, không cần tưởng tượng kì quái. Chẳng hạn bỗng nhiên mặt của người yêu dài ra như một cái bơm:D
Bắt đầu là một tác phẩm của Nguyễn Nhật Minh, hình như cũng 86, tôi thích những người sinh năm 86:):
http://damau.org/
Vì truyện ngắn của tôi khá dài, sic, nên không đăng lại ở blog.
Mấy cái hình ảnh của Rona Pondick khá sợ. Tuy nhiên, càng viết và càng sống (:D) tôi càng thấy và cảm thấy rằng cái phi lí hoang tưởng nằm sát sạt cạnh mình, không cần tưởng tượng kì quái. Chẳng hạn bỗng nhiên mặt của người yêu dài ra như một cái bơm:D
Bắt đầu là một tác phẩm của Nguyễn Nhật Minh, hình như cũng 86, tôi thích những người sinh năm 86:):
http://damau.org/
02 June, 2010
Lí do để sống
1
Giữa đám đông đang nở ra ngàn ngạt người, gã đứng im lặng, vừa như dửng dưng vừa bối rối vì thấy mình thừa thãi.
Đôi chân trên mặt đất như hai cái cây gầy khẳng, không gió và khắc khổ.
Trong đám tang, gã lạc ra như đứa trẻ không thuộc một nhóm chơi nào, không cười không nói, không biết lộ vẻ buồn đau. Cả trong nỗi buồn đi đưa tiễn một người, người ta cũng cần có nhóm. Không dễ gì sống và biểu lộ cảm xúc của mình thuần giản như một niềm yêu mến.
Gió thổi qua tai nhẹ như một nụ cười, một hơi sương, một tiếng nói vừa vỡ ra. Những tiếng nói ly biệt chỉ là một đảo ngược, một cái bóng của niềm vui gặp gỡ.
Gã thấy phơ phất cái miệng cười của Thần Chết, với chính gã. Tay Thần Chết này chuyên đến các đám tang để đi săn những người mơ, nên chỉ những người mơ mới nghe được tiếng nói của hắn.
Thần Chết nói, chỉ có giấc mơ là đáng kể.
Vậy là gã không còn Người Bảo Trợ. Nhà thơ ra đi bất ngờ khi chưa kịp viết lời giới thiệu cho tập thơ đầu tay trong tương lai của gã. Mà nếu không có lời giới thiệu ấy, gã cảm thấy tập thơ trở nên xoàng xĩnh, vô vị, nhất là dễ dàng chìm lỉm trong hàng vạn tập thơ khác.
Cái đầu gã bay bay.
2
Nụ cười của tử thần
bằng miệng
bằng mắt
nếu quay nghiêng trong ánh sáng
một loang loáng nắng hoen
Cái chết nào có đáng gì, Thần Chết nói, nhà thơ là ai? Đó là kẻ rộn ràng trong đám đông, ríu rít như con chim chích chòe chỉ để tự vệ. Đó là kẻ sợ đám đông như sợ một cơn lũ cuốn. Đó là kẻ ngồi rũ mỏi, một mình, mắt vô hồn. Đó là kẻ xa lạ hoàn toàn với tất cả cái đời sống thường nhật đang bày ra kia. Đó là kẻ nhận lấy sự bất động trong cỗ áo quan không một hối tiếc vì số phận. Đó là kẻ chỉ tìm cuộc sống thực sự của mình dưới những trang giấy. Cậu phải vật lộn với đời sống để giữ được giấc mơ, vậy thì tại sao không chết đi? Đó là lí do duy nhất để ta săn cậu lúc này.
Sao ông không đợi đến khi tôi thành danh?
Nhạt hoét. Như với nhà thơ mà cậu yêu mến này, khi ông ta đã nổi tiếng, đã là nhà thơ lớn, các giấc mơ cũng không còn đáng kể lắm đâu. Ta để ông ấy chết, là vì chính ta cũng vì yêu mến quá mà muốn giấc mơ thi sĩ của ông ta thành sự thực. Nhưng khi thành rồi, thì đâu còn là giấc mơ nữa?
3
Những ngón tay di qua di lại trên tấm kính của bàn café. Có bóng con chim lộn nhào vào đám lá rụng theo gió. Giấc mơ nào buồn nhất trong đời? Rồi người ta cũng phải quên các giấc mơ đi?
Trên tấm cửa kính của quán café, thấy mờ mờ hình ảnh gã vò chiếc đầu như vò một búi cỏ. Trên búi cỏ đó, cái miệng của Thần Chết mỉm cười.
4
Những giấc mơ bị quên nhưng người trong giấc mơ vẫn loanh quanh đâu đó.
Gã khiêm nhường cúi chào nhà thơ mà gã yêu mến. Ông cười ha hả.
Gã nhìn bâng quơ để giấu sự bối rối.
Con nhện non buông tơ xanh lủng lẳng đu mình. Đó là tín hiệu của may mắn, Thần Chết nói.
Một con chó đi tơ để rong máu trên nền gạch vỉa hè bên ngoài. Những vệt máu sẫm màu lại thật nhanh. Đó lại là điềm báo, Thần Chết nói.
Nhà thơ cười ha hả và đi ra.
Tiếng nói của nhà thơ vọng lại: Tôi chết rồi, ai người ta còn cần coi trọng lời một người đã chết? Tôi không thể là Người Bảo Trợ cho cậu nữa, hiểu không? Chỉ có một cách: cậu đi cùng tôi, ngay bây giờ, thì người ta sẽ còn nhắc nhỏm đến cậu.
Thần Chết nói, tin ta đi, chỉ có giấc mơ là đáng kể. Hãy giữ gìn nó. Nếu cậu sống mà chẳng giữ được giấc mơ, thì đó chính là lí do để đi theo ta.
5
Gã thấy mình cố sức leo lên một cái cột nhà, bám vào trần như một con nhện hay con chuột bị truy đuổi run rẩy cố bám móng chân của mình vào và treo ngược mình trên đó. Lập tức, lũ thạch sùng cất tiếng cười nhạo báng vì cái vẻ cố sức tội nghiệp của gã, một cố sức để không chết.
Thần Chết đang ném ánh mắt tinh nghịch về phía gã.
Cơn sốt lên hầm hập. Gã sợ sệt. Gã muốn nổ tung. Muốn chối bỏ. Không, gã thề với Thần Chết, tôi chẳng có giấc mơ nào, chẳng có tham vọng nào.
Những vệt mần đỏ đang nổi mỗi lúc một dày đặc trên cơ thể gã. Thần Chết nói, những giấc mơ đang phát sốt.
Không, gã thét lên, ông là kẻ giả dối lừa bịp, ông đi săn người mơ, và ông đẩy tôi vào tình thế của giấc mơ bất lực. Ông tưởng tôi yếu đuối.
Không, Thần Chết nói, sống làm gì trên mặt đất, chỉ có giấc mơ là đáng kể, hãy tin ta.
Gã nghe tiếng nói của nhà thơ – Người Bảo Trợ phản trắc vì cái chết: Đúng thế đó, chỉ có giấc mơ là đáng kể. Cả đời ta chẳng còn gì. Cái tưởng là còn lại, là ngôn từ, cũng chẳng còn. Thực tế, chỉ còn lại một giấc mơ dài về ngôn từ mà thôi.
Không, gã nói, tôi còn muốn sống. Tôi còn muốn đi tìm cuộc sống.
6
Những cái chết đều vô lí, mọi cái chết đều vô lí theo một cách nào đó dù nó là không thể khác.
Từ quán café, gã đứng lên, trúng gió rồi chết, khi chưa kịp để lại một tác phẩm để đời nào. Sau này, tất cả gia tài thơ ca của gã người ta tìm được chỉ là những bản nháp, những bản nháp mụ mị và bốc mùi phân chuột, phân gián, những bản nháp của một giấc mơ bị bỏ quên.
7
Đêm hư không và mênh mông. Lang thang cùng Thần Chết, kẻ săn người mơ, lần đầu tiên, gã cảm thấy ý nghĩa của việc ngắm nhìn người sống sau khi chết. Gã đã thành người bạn đồng hành của Thần Chết.
Cậu thấy chưa, Thần Chết nói, đôi khi người ta vẫn nhắc về cậu như một thiên tài không may ra đi quá sớm, khi muốn điểm lại lịch sử văn học. Người ta đã gom những bản thảo nhàu nát của cậu để in một tập thơ trang trọng và tiếc nuối. Có những người đang nghiên cứu về cậu. Đó, cái còn lại của cậu, chính là một giấc mơ chưa thành. Đó cũng là điều ý nghĩa nhất cậu làm được trong đời sống.
Giả sử không chết vì trúng gió, có lẽ một đêm nào đó, gã cũng bật dậy, lao đi tìm một gương mặt trong mơ đi theo một câu chuyện trong mơ một tiếng gọi một chỉ dẫn của một cái gì vô hình.
Cái chết nào có đáng gì.
Thần Chết nói, tiếc rằng đã quá lâu rồi chúng ta chẳng săn được giấc mơ nào đáng kể cả.
12.06.07 – 26.05.2010
Giữa đám đông đang nở ra ngàn ngạt người, gã đứng im lặng, vừa như dửng dưng vừa bối rối vì thấy mình thừa thãi.
Đôi chân trên mặt đất như hai cái cây gầy khẳng, không gió và khắc khổ.
Trong đám tang, gã lạc ra như đứa trẻ không thuộc một nhóm chơi nào, không cười không nói, không biết lộ vẻ buồn đau. Cả trong nỗi buồn đi đưa tiễn một người, người ta cũng cần có nhóm. Không dễ gì sống và biểu lộ cảm xúc của mình thuần giản như một niềm yêu mến.
Gió thổi qua tai nhẹ như một nụ cười, một hơi sương, một tiếng nói vừa vỡ ra. Những tiếng nói ly biệt chỉ là một đảo ngược, một cái bóng của niềm vui gặp gỡ.
Gã thấy phơ phất cái miệng cười của Thần Chết, với chính gã. Tay Thần Chết này chuyên đến các đám tang để đi săn những người mơ, nên chỉ những người mơ mới nghe được tiếng nói của hắn.
Thần Chết nói, chỉ có giấc mơ là đáng kể.
Vậy là gã không còn Người Bảo Trợ. Nhà thơ ra đi bất ngờ khi chưa kịp viết lời giới thiệu cho tập thơ đầu tay trong tương lai của gã. Mà nếu không có lời giới thiệu ấy, gã cảm thấy tập thơ trở nên xoàng xĩnh, vô vị, nhất là dễ dàng chìm lỉm trong hàng vạn tập thơ khác.
Cái đầu gã bay bay.
2
Nụ cười của tử thần
bằng miệng
bằng mắt
nếu quay nghiêng trong ánh sáng
một loang loáng nắng hoen
Cái chết nào có đáng gì, Thần Chết nói, nhà thơ là ai? Đó là kẻ rộn ràng trong đám đông, ríu rít như con chim chích chòe chỉ để tự vệ. Đó là kẻ sợ đám đông như sợ một cơn lũ cuốn. Đó là kẻ ngồi rũ mỏi, một mình, mắt vô hồn. Đó là kẻ xa lạ hoàn toàn với tất cả cái đời sống thường nhật đang bày ra kia. Đó là kẻ nhận lấy sự bất động trong cỗ áo quan không một hối tiếc vì số phận. Đó là kẻ chỉ tìm cuộc sống thực sự của mình dưới những trang giấy. Cậu phải vật lộn với đời sống để giữ được giấc mơ, vậy thì tại sao không chết đi? Đó là lí do duy nhất để ta săn cậu lúc này.
Sao ông không đợi đến khi tôi thành danh?
Nhạt hoét. Như với nhà thơ mà cậu yêu mến này, khi ông ta đã nổi tiếng, đã là nhà thơ lớn, các giấc mơ cũng không còn đáng kể lắm đâu. Ta để ông ấy chết, là vì chính ta cũng vì yêu mến quá mà muốn giấc mơ thi sĩ của ông ta thành sự thực. Nhưng khi thành rồi, thì đâu còn là giấc mơ nữa?
3
Những ngón tay di qua di lại trên tấm kính của bàn café. Có bóng con chim lộn nhào vào đám lá rụng theo gió. Giấc mơ nào buồn nhất trong đời? Rồi người ta cũng phải quên các giấc mơ đi?
Trên tấm cửa kính của quán café, thấy mờ mờ hình ảnh gã vò chiếc đầu như vò một búi cỏ. Trên búi cỏ đó, cái miệng của Thần Chết mỉm cười.
4
Những giấc mơ bị quên nhưng người trong giấc mơ vẫn loanh quanh đâu đó.
Gã khiêm nhường cúi chào nhà thơ mà gã yêu mến. Ông cười ha hả.
Gã nhìn bâng quơ để giấu sự bối rối.
Con nhện non buông tơ xanh lủng lẳng đu mình. Đó là tín hiệu của may mắn, Thần Chết nói.
Một con chó đi tơ để rong máu trên nền gạch vỉa hè bên ngoài. Những vệt máu sẫm màu lại thật nhanh. Đó lại là điềm báo, Thần Chết nói.
Nhà thơ cười ha hả và đi ra.
Tiếng nói của nhà thơ vọng lại: Tôi chết rồi, ai người ta còn cần coi trọng lời một người đã chết? Tôi không thể là Người Bảo Trợ cho cậu nữa, hiểu không? Chỉ có một cách: cậu đi cùng tôi, ngay bây giờ, thì người ta sẽ còn nhắc nhỏm đến cậu.
Thần Chết nói, tin ta đi, chỉ có giấc mơ là đáng kể. Hãy giữ gìn nó. Nếu cậu sống mà chẳng giữ được giấc mơ, thì đó chính là lí do để đi theo ta.
5
Gã thấy mình cố sức leo lên một cái cột nhà, bám vào trần như một con nhện hay con chuột bị truy đuổi run rẩy cố bám móng chân của mình vào và treo ngược mình trên đó. Lập tức, lũ thạch sùng cất tiếng cười nhạo báng vì cái vẻ cố sức tội nghiệp của gã, một cố sức để không chết.
Thần Chết đang ném ánh mắt tinh nghịch về phía gã.
Cơn sốt lên hầm hập. Gã sợ sệt. Gã muốn nổ tung. Muốn chối bỏ. Không, gã thề với Thần Chết, tôi chẳng có giấc mơ nào, chẳng có tham vọng nào.
Những vệt mần đỏ đang nổi mỗi lúc một dày đặc trên cơ thể gã. Thần Chết nói, những giấc mơ đang phát sốt.
Không, gã thét lên, ông là kẻ giả dối lừa bịp, ông đi săn người mơ, và ông đẩy tôi vào tình thế của giấc mơ bất lực. Ông tưởng tôi yếu đuối.
Không, Thần Chết nói, sống làm gì trên mặt đất, chỉ có giấc mơ là đáng kể, hãy tin ta.
Gã nghe tiếng nói của nhà thơ – Người Bảo Trợ phản trắc vì cái chết: Đúng thế đó, chỉ có giấc mơ là đáng kể. Cả đời ta chẳng còn gì. Cái tưởng là còn lại, là ngôn từ, cũng chẳng còn. Thực tế, chỉ còn lại một giấc mơ dài về ngôn từ mà thôi.
Không, gã nói, tôi còn muốn sống. Tôi còn muốn đi tìm cuộc sống.
6
Những cái chết đều vô lí, mọi cái chết đều vô lí theo một cách nào đó dù nó là không thể khác.
Từ quán café, gã đứng lên, trúng gió rồi chết, khi chưa kịp để lại một tác phẩm để đời nào. Sau này, tất cả gia tài thơ ca của gã người ta tìm được chỉ là những bản nháp, những bản nháp mụ mị và bốc mùi phân chuột, phân gián, những bản nháp của một giấc mơ bị bỏ quên.
7
Đêm hư không và mênh mông. Lang thang cùng Thần Chết, kẻ săn người mơ, lần đầu tiên, gã cảm thấy ý nghĩa của việc ngắm nhìn người sống sau khi chết. Gã đã thành người bạn đồng hành của Thần Chết.
Cậu thấy chưa, Thần Chết nói, đôi khi người ta vẫn nhắc về cậu như một thiên tài không may ra đi quá sớm, khi muốn điểm lại lịch sử văn học. Người ta đã gom những bản thảo nhàu nát của cậu để in một tập thơ trang trọng và tiếc nuối. Có những người đang nghiên cứu về cậu. Đó, cái còn lại của cậu, chính là một giấc mơ chưa thành. Đó cũng là điều ý nghĩa nhất cậu làm được trong đời sống.
Giả sử không chết vì trúng gió, có lẽ một đêm nào đó, gã cũng bật dậy, lao đi tìm một gương mặt trong mơ đi theo một câu chuyện trong mơ một tiếng gọi một chỉ dẫn của một cái gì vô hình.
Cái chết nào có đáng gì.
Thần Chết nói, tiếc rằng đã quá lâu rồi chúng ta chẳng săn được giấc mơ nào đáng kể cả.
12.06.07 – 26.05.2010
26 May, 2010
Robinson
Tiệc mừng của Tổ chức Bảo Vệ Động Vật
Người ta đặt trước mặt tôi một đĩa thức ăn gồm những miếng thịt hồng hồng xếp đẹp mắt trong bữa tiệc chiêu đãi những người mới gia nhập tổ chức Bảo Vệ Động Vật. Tôi thét lên:
- Không ăn thịt người đâu! Không ăn thịt người đâu!
Những người quen nhìn tôi ái ngại. Những người lạ cười lên ha hả, dửng dưng nói:
- Đó chỉ là một bài tập thực hành dành cho bất cứ kẻ nào muốn tham dự tổ chức. Còn đĩa thịt này tất nhiên là số phận của những kẻ phản bội.
Tôi tỉnh khỏi giấc mơ để nôn và lại cố nằm ngủ tiếp xem họ làm gì tôi trong bữa tiệc.
Giấc mơ của người mê ngủ
Gã ngủ mê mải để mơ mãi về một giấc mơ được ngủ suốt đời không bao giờ phải tỉnh
dậy.
Cuộc đời tẻ nhạt
Để không bao giờ viết nữa, hắn ngồi mài mười đầu ngón tay xuống đá ngày này sang ngày khác cho đến khi hai bàn tay trụi lủi. Khi đó, hắn lại bắt đầu công cuộc tập viết bằng các ngón chân.
Robinson
Xa cách quá lâu, khi Robinson tìm được đường về đất liền, câu chuyện duy nhất của chàng chỉ còn là một chuỗi thổ âm xa lạ.
.
Tỉnh giấc
Chẳng biết những con người trong mơ đã gặp ta đó, giờ đi đâu?
Người ta đặt trước mặt tôi một đĩa thức ăn gồm những miếng thịt hồng hồng xếp đẹp mắt trong bữa tiệc chiêu đãi những người mới gia nhập tổ chức Bảo Vệ Động Vật. Tôi thét lên:
- Không ăn thịt người đâu! Không ăn thịt người đâu!
Những người quen nhìn tôi ái ngại. Những người lạ cười lên ha hả, dửng dưng nói:
- Đó chỉ là một bài tập thực hành dành cho bất cứ kẻ nào muốn tham dự tổ chức. Còn đĩa thịt này tất nhiên là số phận của những kẻ phản bội.
Tôi tỉnh khỏi giấc mơ để nôn và lại cố nằm ngủ tiếp xem họ làm gì tôi trong bữa tiệc.
Giấc mơ của người mê ngủ
Gã ngủ mê mải để mơ mãi về một giấc mơ được ngủ suốt đời không bao giờ phải tỉnh
dậy.
Cuộc đời tẻ nhạt
Để không bao giờ viết nữa, hắn ngồi mài mười đầu ngón tay xuống đá ngày này sang ngày khác cho đến khi hai bàn tay trụi lủi. Khi đó, hắn lại bắt đầu công cuộc tập viết bằng các ngón chân.
Robinson
Xa cách quá lâu, khi Robinson tìm được đường về đất liền, câu chuyện duy nhất của chàng chỉ còn là một chuỗi thổ âm xa lạ.
.
Tỉnh giấc
Chẳng biết những con người trong mơ đã gặp ta đó, giờ đi đâu?
23 May, 2010
Người kể chuyện cho trẻ em và Nhiệt Đới
Một trong những điều khiến tôi vui là viết thơ và kể chuyện (đúng bằng cách chỉ dùng lời nói, không viết lại) một cách ngẫu hứng cho trẻ con, cho tôi – con trẻ.
Cách đây hai năm, khi còn đầy ảo tưởng, (giờ thì ảo tưởng đầy:D), vì một gặp gỡ vừa ngẫu nhiên vừa có lý với nhà văn Lê Phương Liên, tôi đã đề xuất ý tưởng thành lập một nhóm sáng tác văn học thiếu nhi với hi vọng tận dụng công cụ blog, web để hoạt động độc lập và mở rộng mà không cần đến những sinh hoạt thực tế mang tính phong trào hay cổ động cho vui.
[Cái ngẫu nhiên này tất yếu nằm ở bản tính hoài cổ nhớ lâu mà không thù dai của tôi. Khi nghe tên “Lê Phương Liên”, tôi giật mình nghĩ hóa ra cô ấy ở ngay Hà Nội này, chứ không phải thuộc về một ngôi trường sơ tán nào đó có nhiều cây bàng nhiều đứa trẻ với Những tia nắng đầu tiên, chỉ nhớ thế, và giọng đọc trong vắt trên chương trình cho thiếu nhi của Đài tiếng nói VN hơn chục năm trước… Cái tên Lê Phương Liên vì thế, với tôi luôn đẹp như nắng vậyJ. Thế là tôi xin số điện thoại, run run tìm gặp, rồi tôi được tặng sách, nhưng không phải cuốn sách in to cỡ bàn tay người lớn của NXB KĐ ngày xưa mà tôi đã tìm loạn lên ở cái thị trấn nghèo nàn vui buồn ấy]
Cái tên Nhiệt Đới được con chim Sẻ tóc xù, một người bạn mà tôi luôn biết đó- là -ai -đấy nghĩ ra. Quá hay, đẹp tươi.
Rồi tôi tổ chức ra mắt, dưới sự hỗ trợ tài chính của công ty sách Hà Giang, mà tôi chưa có gì để đền đáp ân nghĩa buổi đầu ấy.
Rồi tôi nhận được rất rất nhiều chia sẻ và tác phẩm gửi đến, thơ, văn, tin tức…
Rồi chúng tôi tổ chức gặp nhau và trao đổi được thêm hai lần nữa.
Tôi và một vài người bạn nữa đã đọc, lọc, cũng không được bao nhiêu để đưa lên blog, khi ấy còn là yahoo.
Yahoo sụp, tôi bắt đầu xin tài trợ làm website, chuyển dữ liệu đã up lên blog www.nhietdoi.wordpress.com
Tôi vẫn chưa làm được điều gì để không là vô ích sự giúp đỡ và chia sẻ của những nhà văn, nhà thơ như cô Lê Phương Liên, nhà thơ Việt Phương, người đã giới thiệu tôi đến gặp ông Trần Xuân Giá vì muốn hỗ trợ một phần cho website này.
Website bị trục trặc rất nhiều lần vì người thiết kế, vì nhiều việc… đến giờ vẫn chưa hoàn thành.
Đó làchủ yếu là do sự không may mắn và do cách làm việc cả tin của tôi, cũng như sự thiếu tôn trọng công việc của đối tác.
Tôi đã để vô ích tiền bạc, công sức, thời gian và đem về cho mình sự mệt mỏi, trong khi tôi gần như chỉ có một mình, cùng một, hai người bạn thân hỗ trợ phần nào, chia sẻ phần nào.
Có lúc bạn đã khuyên tôi nên bỏ. Đừng chuốc mệt vào mình.
Nhưng tôi không thể phụ lòng người khác. Tôi đã biết mình làm một việc chưa đúng thời điểm hay tự tặng mình sự mệt nhọc, nhưng tôi luôn nhắc mình phải làm, dù sớm hay muộn.
May sao, tôi gặp Thụy Anh. Và Nhiệt Đới sẽ trở thành một dự án nhỏ trong dự án CLB Đọc sách cùng con, nhưng vẫn hoạt động độc lập về văn chương.
Lần khởi động lại này, tôi đã bớt đặt những mục tiêu xa. Tôi muốn làm một việc cụ thể : xây dựng được một không gian kích thích sáng tác văn học thiếu nhi.
Chỉ thế thôi, nhưng là cả một chuỗi khó khăn, vì tôi đã đọc những gì gửi đến NĐới và văn học thiếu nhi Vn, tôi biết, tất cả cần phải xây dựng lại từ đầu.
Chưa bao giờ tôi nghĩ mình trở thành một người viết chuyên cho thiếu nhi, nhưng nay, tôi đã tự thấy mình sẽ có một phần nào trong đó.
Khi Nhiệt Đới ra mắt website trong tháng 6 tới, điều tôi mong nhất là có được đôi ba người nhiệt tình, đam mê sẽ cùng tôi xây dựng website này. Tôi biết bây giờ người viết có nhiều cách để khẳng định, nhưng website chuyên về văn học thiếu nhi có thể vẫn là có ích cho những người đọc, và cho người viết đang tìm đường, tìm không gian sẻ chia.
Tôi chờ đợi được hợp tác và chung sức.
Còn đây là chút suy nghĩ lẻ của tôi về người viết văn học thiếu nhi hôm nay, mà tôi cũng là kẻ đang tham dự, kẻ muốn uống nước từ Biển Truyện.
Cảm ơn những người bạn không kể tuổi tác, những người xa gần đã bên tôi và giúp tôi trong hai năm qua. Hai năm để nhận ra ở tuổi 20, 21 người ta nghĩ mình có thể làm được mọi thứ một cách dễ dàng, và bây giờ tôi phải nghĩ: mình phải làm mọi việc một cách thông minh và kiên nhẫn. Tôi mong các bạn đã từng vui cùng NĐới ra mắt sẽ kiên nhẫn thêm cho một chút hi vọng nữa, one more time:)
N.T
22 May, 2010
Kẻ bỏ đi
hắn nói: ải áy!
ải áy, ải áy!
(cả sự rỖng,
tất nhiên – tôi chú thích)
tro của bàn tay
rất mềm rất ấm
tôi vục vào mò đôi tròng mắt loàn loạn trắng
lờm lợm nhoèn nhoẹt nắng
hè hà nội
rất nhiều ngón tay chọc thẳng xuống
xoáy từng lỗ hổng đen hồng hộc và ngòm ngọm sâu
những cái móng đợi được mọc lên
những ngón tay cắm thẳng
đợi………………………..
hắn đến
cùng buông
lộn cổ vào một bầu trời thủng lỗ chỗ
m
t
bầ tr `i
ủ ng ỗ
l ch
kẻ bỏ đi cũng là kẻ
vượt qua những gì đang chế ngự
ngọng líu lô
đủ sức giết chết hay hồi sinh những con mắt trong tro ấm
kẻ bỏ đi cũng là kẻ đã
la ó, khóc than, im lặng
một hôm xổ ra những con mắt
một hôm xổ ra toàn màu trắng
thế giới bị chọc mù
ai cắm trên đầu những ngón tay
rất nhiều con mắt thòi lọi
A, ơ, uơ uơ ang ốc áy!
22.05.2010
ải áy, ải áy!
(cả sự rỖng,
tất nhiên – tôi chú thích)
tro của bàn tay
rất mềm rất ấm
tôi vục vào mò đôi tròng mắt loàn loạn trắng
lờm lợm nhoèn nhoẹt nắng
hè hà nội
rất nhiều ngón tay chọc thẳng xuống
xoáy từng lỗ hổng đen hồng hộc và ngòm ngọm sâu
những cái móng đợi được mọc lên
những ngón tay cắm thẳng
đợi………………………..
hắn đến
cùng buông
lộn cổ vào một bầu trời thủng lỗ chỗ
m
t
bầ tr `i
ủ ng ỗ
l ch
kẻ bỏ đi cũng là kẻ
vượt qua những gì đang chế ngự
ngọng líu lô
đủ sức giết chết hay hồi sinh những con mắt trong tro ấm
kẻ bỏ đi cũng là kẻ đã
la ó, khóc than, im lặng
một hôm xổ ra những con mắt
một hôm xổ ra toàn màu trắng
thế giới bị chọc mù
ai cắm trên đầu những ngón tay
rất nhiều con mắt thòi lọi
A, ơ, uơ uơ ang ốc áy!
22.05.2010
Lại Romeo & Juliet
Câu chuyện về một nhà thơ can đảm
Như những nhà thơ trung thực với mình và can đảm tự hủy, gã ném tất cả những bài thơ gã cảm thấy nhạt nhẽo vào lò lửa.
Kể từ đó, suốt cả quãng đời khô kiệt cảm hứng còn lại, gã vặn vẹo mãi một mình một chuỗi dây xoắn đau khổ và nuối tiếc như thể đã làm một việc ngu xuẩn nhất trên đời, và như thể gã đã hủy diệt những bản thảo lẽ ra là những tác phẩm không-thể-mục-nát.
Cũng từ đó, gã cứ lân la hết người này kẻ khác để kể về sự tự hủy đau đớn và can đảm đó như một giai thoại.
Người ta nói, để lại giai thoại chính là cái an ủi đáng kể nhất trong cuộc đời của gã.
22.05.2010
Lại Romeo & Juliet
Dưới vầng trăng đang phủ bạc trên những ngọn cây trĩu quả, khi Romeo cất lời thề thốt, Juliet biết rằng Romeo đang sở hữu một cái lưỡi vô giá.
Shakespeare cho rằng cái lưỡi giết chết hầu hết các cặp tình nhân.
05.2010
Như những nhà thơ trung thực với mình và can đảm tự hủy, gã ném tất cả những bài thơ gã cảm thấy nhạt nhẽo vào lò lửa.
Kể từ đó, suốt cả quãng đời khô kiệt cảm hứng còn lại, gã vặn vẹo mãi một mình một chuỗi dây xoắn đau khổ và nuối tiếc như thể đã làm một việc ngu xuẩn nhất trên đời, và như thể gã đã hủy diệt những bản thảo lẽ ra là những tác phẩm không-thể-mục-nát.
Cũng từ đó, gã cứ lân la hết người này kẻ khác để kể về sự tự hủy đau đớn và can đảm đó như một giai thoại.
Người ta nói, để lại giai thoại chính là cái an ủi đáng kể nhất trong cuộc đời của gã.
22.05.2010
Lại Romeo & Juliet
Dưới vầng trăng đang phủ bạc trên những ngọn cây trĩu quả, khi Romeo cất lời thề thốt, Juliet biết rằng Romeo đang sở hữu một cái lưỡi vô giá.
Shakespeare cho rằng cái lưỡi giết chết hầu hết các cặp tình nhân.
05.2010
15 May, 2010
Thơ Lý Đợi - Khi kẻ thù của ta buồn ngủ
Trân trọng giới thiệu tập thơ song ngữ của Lý Đợi đã đến Hà Nội:
Khi kẻ thù ta buồn ngủ
When our enemy falls asleep
(Translated from Vietnamese by Nguyễn Tiến Văn)
Giấy Vụn Publishing house, 2010
Ăn tạm chút soup tại đây
Bác Nguyễn Tiến Văn cũng bị nhặt sạn. hihi
Nếu ai có nhu cầu sở hữu tập thơ còn thơm thơm mùi mực này, xin để lại ms or email, gọi điện tới khổ chủ blog này.
(Lần này em quảng bá kiểu trần trụi giữa bầy sói thế thôi các bác ạ, em cũng biết “thơ không thể PR, dù không thể không PR”)
Số lượng có hạn, ưu tiên người có quà tặng:)
N.T
12 May, 2010
Thành phố viển vông
Có nhiều cách người ta đến với (Lưu Quang) Vũ, mà với nhiều người, LQV có lẽ chỉ là Vũ, như một mối tình không bao giờ nghĩ đến một cái đích, nhưng không bao giờ mất đi. Gọi là mối tình đầu, tình thứ hai hay thế nào cũng được. Quả đúng, bất cứ khi nào yêu được thì hãy cứ yêu đi, đừng băn khoăn gì cả, đừng nghĩ gì ngoài nó. Bởi thế, người đàn bà nào của Vũ cũng là tha thiết tận tim, bàng hoàng cơ thể. Người đàn bà nào cũng có thể tự thấy mình là người xứng đáng với tình yêu hơn hết, khi được Vũ yêu và khi yêu Vũ. Đừng ghen tuông, dù luôn khát khao tuyệt đối, và thường trực ghen tuông, vì tất thảy sẽ là “người đàn bà không có tên”, nhưng như khí trời để thở, như tình yêu để yêu, như thơ để sống… Chẳng có gì không là tận hiến và tận cùng đòi hỏi.
Vì lẽ nào mà Vũ đến với tôi? Không lẽ vẫn là từ người cha yêu thơ theo cách của một kẻ cô đơn tìm đến từ ngữ, có thể chỉ là việc tìm đến từ ngữ. (Cho nên với ông, thơ là Nguyễn Bính, Hàn Mặc Tử, Lưu Quang Vũ, Tú Xương mà cũng là cả Tố Hữu). Khi tôi 11 tuổi, vừa vào lớp 6, tôi đã thấy tình yêu trong câu chuyện này của bố (mà tôi không bao giờ biết hư thực): Vũ trở về nhà trong đêm sau một chuyến đi xa, đầu đội mũ cát, quần áo bạc bụi đường, mở cửa, và thấy người vợ (là ai?) đùa vui với một người khác, Vũ kéo mũ sụp xuống, lặng lẽ đi ra và không bao giờ quay lại nữa. Tiểu sử của Vũ chẳng bao giờ xác minh cho tôi chuyện này. Đó có thể chỉ là một nhầm lẫn, một mơ hồ của trí nhớ, của bố tôi, và rồi là của tôi. Vũ không phải là Lưu Quang Vũ, Vũ là một nhân vật.
Thế mà đến năm 2003, tôi 17 tuổi, tôi mới được tự mình đọc những bài thơ của Vũ, trong một cuốn sách (Cuốn “Lưu Quang Vũ thơ và đời”, nxb Văn hóa Thông tin 1997, bìa sách đơn giản với hình ảnh Vũ buồn bã, mơ mộng, sâu thẳm mà lại ngây thơ như một cậu bé ở giữa, màu trắng bao quanh) mà tôi mua được khi lang thang giữa trưa nắng gắt một mình, buồn bã, bé nhỏ và luôn hồi hộp, ở một thành phố mà tôi luôn nhớ về nó với câu thơ này: “Thành phố ngày anh mười bảy tuổi; Viển vông, cay đắng, u buồn”. Hồi đó, lớp chúng tôi đặt báo Văn nghệ, và tôi đọc câu thơ đó từ báo. Trong kí ức tôi thuở nhỏ, Hải Dương luôn là một thị xã hơn là thành phố, nơi tôi không bao giờ quên cảm giác lạ lẫm khi xe ô tô chạy qua cái chắn ngang cầu Phú Lương cũ, thường phải dừng lại khi có đoàn tàu chạy qua (mà sau này, chẳng bao giờ được đi ô tô phía cầu cũ đó, cây cầu và chuyến ô tô định mệnh nào đó đã là số phận của Vũ, của Xuân Quỳnh, bé Quỳnh Thơ để Vũ, như Hàn Mặc Tử, không bao giờ già cho nổi trong trí nhớ.). Nhưng Hải Dương hồi 17 tuổi của tôi đã là một thành phố, và không có câu thơ nào với tôi chính xác hơn thế : “Viển vông, cay đắng, u buồn”, dù kẻ nào cũng có thể mượn câu đó để cho là đúng với mình hơn hết. Đó là thành phố nơi tôi bắt đầu những tình bạn đặc biệt mà từ văn chương, chúng tôi kéo nhau lại với đời sống, hay từ đời sống được níu giữ lại nơi miệng vực của tâm trạng dễ tuyệt vọng và sẵn sàng đau đớn của tuổi trẻ mà chúng tôi tìm đến văn chương. Đó là thành phố của những hàng chè “trăm năm” (chè “năm trăm VNĐ/cốc), của những hàng bàng hoa trắng và quả mọng vàng ươm thơm phức trao tay nhau, của nhà ga cũ kĩ những tiếng rao, của những “chợ Con”, của ngõ nhỏ nơi tôi thấy mình như một gã trai “ vào mua bao thuốc/ngồi hút mà buồn tênh/em yêu hay không yêu/việc gì mà phải khổ?”, thành phố của con chim sẻ tóc xù, của bác thợ mộc, của cây táo ra hoa, của cái rạp hát không bao giờ mở cửa để “ngồi trong nhà hát đợi màn lên”, của những quán sách cũ lẻ loi, của hiệu sách sơ sài mà thèm khát…, thành phố của những mùa hoa ngâu rộm vàng ven hồ Bạch Đằng và thơm trong sổ thơ “Nắp đàn khóa sợi dây vẫn hát/Bao giờ ngâu nở hoa”... Thành phố nơi đầu tiên tôi biết tuyệt vọng mà không thôi khao khát lại. Thành phố mà một người bạn đã dành cho tôi những câu thơ này:
Em gầy như huệ trắng xanh
Ngọn lửa nhỏ giữa đôi bờ vực thẳm
Em kì diệu em âm thầm kiêu hãnh
Em cô đơn như biển lạ lùng ơi…
Khi đó, tôi gầy hơn bây giờ nhiều, có lẽ tôi cũng mãnh liệt hơn, cô đơn hơn, khao khát hơn, kiêu hãnh hơn, khi đó tôi chưa bị cái đời sống của nhiều quan hệ giao tiếp cười nói làm che lấp cái tôi, khi đó giữa những người bạn, bao giờ tôi cũng khiến họ vừa yêu thương vừa ngại ngùng không đến gần, khi đó tôi là đứa trẻ lạc loài, xa lạ giữa lớp học ồn ào, là một linh hồn, là một thứ hoa dại… Khi đó, tôi gần như tự thấy mình không có khả năng duy trì một đời sống bình thường giữa mọi người, lúc nào cũng bất ổn, ngổn ngang, thất thần. Sau này, có những lúc, tôi đã sợ sự hoạt bát vui vẻ mà tôi thêm vào gương mặt mình khi đã lân la làm thân với đời sống.
Ở thành phố đó, (chúng) tôi yêu Vũ. Chúng tôi chép tặng nhau những bài thơ của Vũ. Tôi đọc ngẩn ngơ hàng ngày những câu trong bài “Bầy ong trong đêm sâu” như dành cho tôi:
Tâm hồn anh dằn vặt cuộc đời anh
Thắp một ngọn đèn hồng như ánh lửa
Đêm sâu quá đêm nào biết ngủ
Chỉ con người đến ngủ giữa đêm thôi
Mà có ngủ đâu người ta đợi mặt trời
Đợi lâu quá nên để cơn mơ chờ đợi vậy…
… Con ong vàng bé nhỏ đến tìm em
Con ong trắng bơ vơ trong tổ nắng
Con ong đỏ là con ong thơ thẩn
Bay đi tìm hương nhụy mất từ lâu…
Nick yahoo đầu tiên của tôi là ongdo86 mà bạn bè thường đọc là Ông đồ.
Nhiều bài thơ khác của Vũ ám hơn, như những bài về chiến tranh. Nhưng những bài về tình yêu, hay chính là về tâm hồn thật là Vũ của tuổi 17 của tôi hơn. Kể từ đó, tình yêu với tôi thường cũng là dằn vặt, về bản thân mình và về tuyệt đối. Tôi yêu một quả chuông đập giữa hồi chuông vô tận của trời xanh, tôi yêu cách tôi hồi hộp, bồn chốn sống, lúc nào cũng thế.
Nhưng tôi không tin người yêu thơ Vũ có thể trả lời câu hỏi: Vì sao yêu thơ Vũ? Tôi đã nhiều lần bị hỏi câu này, có lần có lẽ đã làm mất toi mấy chục phút phỏng vấn của anh bạn ở đài truyền hình Hải Phòng, vì không sao ghi hình nổi và không sao nói năng suôn sẻ nổi (chỉ vì anh bạn nhất nhất bắt trả lời và bắt đọc thơ, hồi kịch của Vũ được diễn ở nhà hát Tuổi trẻ mấy năm gần đây). Nếu nói đến cách tạo dựng hình ảnh siêu thực, thì sự siêu thực của Vũ không thật quái lạ. Nếu nói cái mới về ngôn ngữ, cảm xúc…
Mọi thứ phân tích dường như là vô nghĩa.
Ở thơ Vũ, người ta có lẽ đã để xảy ra nơi tâm hồn mình sự nhập thân hay sự tự đồng nhất kì lạ, dù người đọc là nữ hay nam, là kẻ cô đơn hay có xung quanh bao niềm vui bè bạn, điều chỉ có khi người làm thơ như trút hết mình nơi đó. Hay Vũ đã “giết” người bằng những từ gây nguy hiểm mà cũng là những từ làm nên sức mạnh của tuổi trẻ, vì nó luôn tìm đến sự sâu thẳm, tận cùng, tuyệt đối, mà không bị màu mè, làm dáng, lão hóa hay sến rớt khi Vũ dùng: bàng hoàng, tận cùng, dằn vặt, bơ vơ, cô đơn… Thơ Vũ và Vũ trẻ, thực sự, ở sự khao khát cái tuyệt đối và sự thất vọng quá sâu đó, nhưng không bao giờ mòn mỏi. Mòn mỏi là trạng thái đáng sợ nhất của đời sống.
Rất nhiều năm sau tôi không đọc thơ LQV nữa, khi tôi lên đại học, Vũ vẫn là một kỉ niệm, một mối tình, mà Lưu Quang Vũ lại là một cái tên kí dưới các bài thơ mà, khi người ta nói đến nhiều thì tôi thấy xa xôi.
Nhưng cái thành phố viển vông cay đắng u buồn ấy, thì mãi mãi còn đeo bám tôi như số phận. Tôi đã hoài niệm nó ngay khi chưa rời xa nó. Cũng như tôi bây giờ vẫn thường bị tách khỏi đời sống hiện tại bằng căn bệnh hoài niệm mãn tính này.
Sao những ngày này, một tiếng nói của bạn cũng làm tôi nhớ đến mềm lại cả không gian Hà Nội bụi bặm này, khi lá bay vàng mặt phố như bầy cá nhỏ đùa bỡn, bằng lăng bỗng muốn nổi loạn và chẳng còn gì đáng kể ngoài tình bạn và tình yêu, (và thơ.)
Tôi chưa tin có người nào viết được về thơ Vũ mà không giết đi thơ Vũ, hay làm một việc thừa. Và thể nào cũng có kẻ ghen tuông với tình yêu tôi dành cho Vũ.
12/05/2010
Vì lẽ nào mà Vũ đến với tôi? Không lẽ vẫn là từ người cha yêu thơ theo cách của một kẻ cô đơn tìm đến từ ngữ, có thể chỉ là việc tìm đến từ ngữ. (Cho nên với ông, thơ là Nguyễn Bính, Hàn Mặc Tử, Lưu Quang Vũ, Tú Xương mà cũng là cả Tố Hữu). Khi tôi 11 tuổi, vừa vào lớp 6, tôi đã thấy tình yêu trong câu chuyện này của bố (mà tôi không bao giờ biết hư thực): Vũ trở về nhà trong đêm sau một chuyến đi xa, đầu đội mũ cát, quần áo bạc bụi đường, mở cửa, và thấy người vợ (là ai?) đùa vui với một người khác, Vũ kéo mũ sụp xuống, lặng lẽ đi ra và không bao giờ quay lại nữa. Tiểu sử của Vũ chẳng bao giờ xác minh cho tôi chuyện này. Đó có thể chỉ là một nhầm lẫn, một mơ hồ của trí nhớ, của bố tôi, và rồi là của tôi. Vũ không phải là Lưu Quang Vũ, Vũ là một nhân vật.
Thế mà đến năm 2003, tôi 17 tuổi, tôi mới được tự mình đọc những bài thơ của Vũ, trong một cuốn sách (Cuốn “Lưu Quang Vũ thơ và đời”, nxb Văn hóa Thông tin 1997, bìa sách đơn giản với hình ảnh Vũ buồn bã, mơ mộng, sâu thẳm mà lại ngây thơ như một cậu bé ở giữa, màu trắng bao quanh) mà tôi mua được khi lang thang giữa trưa nắng gắt một mình, buồn bã, bé nhỏ và luôn hồi hộp, ở một thành phố mà tôi luôn nhớ về nó với câu thơ này: “Thành phố ngày anh mười bảy tuổi; Viển vông, cay đắng, u buồn”. Hồi đó, lớp chúng tôi đặt báo Văn nghệ, và tôi đọc câu thơ đó từ báo. Trong kí ức tôi thuở nhỏ, Hải Dương luôn là một thị xã hơn là thành phố, nơi tôi không bao giờ quên cảm giác lạ lẫm khi xe ô tô chạy qua cái chắn ngang cầu Phú Lương cũ, thường phải dừng lại khi có đoàn tàu chạy qua (mà sau này, chẳng bao giờ được đi ô tô phía cầu cũ đó, cây cầu và chuyến ô tô định mệnh nào đó đã là số phận của Vũ, của Xuân Quỳnh, bé Quỳnh Thơ để Vũ, như Hàn Mặc Tử, không bao giờ già cho nổi trong trí nhớ.). Nhưng Hải Dương hồi 17 tuổi của tôi đã là một thành phố, và không có câu thơ nào với tôi chính xác hơn thế : “Viển vông, cay đắng, u buồn”, dù kẻ nào cũng có thể mượn câu đó để cho là đúng với mình hơn hết. Đó là thành phố nơi tôi bắt đầu những tình bạn đặc biệt mà từ văn chương, chúng tôi kéo nhau lại với đời sống, hay từ đời sống được níu giữ lại nơi miệng vực của tâm trạng dễ tuyệt vọng và sẵn sàng đau đớn của tuổi trẻ mà chúng tôi tìm đến văn chương. Đó là thành phố của những hàng chè “trăm năm” (chè “năm trăm VNĐ/cốc), của những hàng bàng hoa trắng và quả mọng vàng ươm thơm phức trao tay nhau, của nhà ga cũ kĩ những tiếng rao, của những “chợ Con”, của ngõ nhỏ nơi tôi thấy mình như một gã trai “ vào mua bao thuốc/ngồi hút mà buồn tênh/em yêu hay không yêu/việc gì mà phải khổ?”, thành phố của con chim sẻ tóc xù, của bác thợ mộc, của cây táo ra hoa, của cái rạp hát không bao giờ mở cửa để “ngồi trong nhà hát đợi màn lên”, của những quán sách cũ lẻ loi, của hiệu sách sơ sài mà thèm khát…, thành phố của những mùa hoa ngâu rộm vàng ven hồ Bạch Đằng và thơm trong sổ thơ “Nắp đàn khóa sợi dây vẫn hát/Bao giờ ngâu nở hoa”... Thành phố nơi đầu tiên tôi biết tuyệt vọng mà không thôi khao khát lại. Thành phố mà một người bạn đã dành cho tôi những câu thơ này:
Em gầy như huệ trắng xanh
Ngọn lửa nhỏ giữa đôi bờ vực thẳm
Em kì diệu em âm thầm kiêu hãnh
Em cô đơn như biển lạ lùng ơi…
Khi đó, tôi gầy hơn bây giờ nhiều, có lẽ tôi cũng mãnh liệt hơn, cô đơn hơn, khao khát hơn, kiêu hãnh hơn, khi đó tôi chưa bị cái đời sống của nhiều quan hệ giao tiếp cười nói làm che lấp cái tôi, khi đó giữa những người bạn, bao giờ tôi cũng khiến họ vừa yêu thương vừa ngại ngùng không đến gần, khi đó tôi là đứa trẻ lạc loài, xa lạ giữa lớp học ồn ào, là một linh hồn, là một thứ hoa dại… Khi đó, tôi gần như tự thấy mình không có khả năng duy trì một đời sống bình thường giữa mọi người, lúc nào cũng bất ổn, ngổn ngang, thất thần. Sau này, có những lúc, tôi đã sợ sự hoạt bát vui vẻ mà tôi thêm vào gương mặt mình khi đã lân la làm thân với đời sống.
Ở thành phố đó, (chúng) tôi yêu Vũ. Chúng tôi chép tặng nhau những bài thơ của Vũ. Tôi đọc ngẩn ngơ hàng ngày những câu trong bài “Bầy ong trong đêm sâu” như dành cho tôi:
Tâm hồn anh dằn vặt cuộc đời anh
Thắp một ngọn đèn hồng như ánh lửa
Đêm sâu quá đêm nào biết ngủ
Chỉ con người đến ngủ giữa đêm thôi
Mà có ngủ đâu người ta đợi mặt trời
Đợi lâu quá nên để cơn mơ chờ đợi vậy…
… Con ong vàng bé nhỏ đến tìm em
Con ong trắng bơ vơ trong tổ nắng
Con ong đỏ là con ong thơ thẩn
Bay đi tìm hương nhụy mất từ lâu…
Nick yahoo đầu tiên của tôi là ongdo86 mà bạn bè thường đọc là Ông đồ.
Nhiều bài thơ khác của Vũ ám hơn, như những bài về chiến tranh. Nhưng những bài về tình yêu, hay chính là về tâm hồn thật là Vũ của tuổi 17 của tôi hơn. Kể từ đó, tình yêu với tôi thường cũng là dằn vặt, về bản thân mình và về tuyệt đối. Tôi yêu một quả chuông đập giữa hồi chuông vô tận của trời xanh, tôi yêu cách tôi hồi hộp, bồn chốn sống, lúc nào cũng thế.
Nhưng tôi không tin người yêu thơ Vũ có thể trả lời câu hỏi: Vì sao yêu thơ Vũ? Tôi đã nhiều lần bị hỏi câu này, có lần có lẽ đã làm mất toi mấy chục phút phỏng vấn của anh bạn ở đài truyền hình Hải Phòng, vì không sao ghi hình nổi và không sao nói năng suôn sẻ nổi (chỉ vì anh bạn nhất nhất bắt trả lời và bắt đọc thơ, hồi kịch của Vũ được diễn ở nhà hát Tuổi trẻ mấy năm gần đây). Nếu nói đến cách tạo dựng hình ảnh siêu thực, thì sự siêu thực của Vũ không thật quái lạ. Nếu nói cái mới về ngôn ngữ, cảm xúc…
Mọi thứ phân tích dường như là vô nghĩa.
Ở thơ Vũ, người ta có lẽ đã để xảy ra nơi tâm hồn mình sự nhập thân hay sự tự đồng nhất kì lạ, dù người đọc là nữ hay nam, là kẻ cô đơn hay có xung quanh bao niềm vui bè bạn, điều chỉ có khi người làm thơ như trút hết mình nơi đó. Hay Vũ đã “giết” người bằng những từ gây nguy hiểm mà cũng là những từ làm nên sức mạnh của tuổi trẻ, vì nó luôn tìm đến sự sâu thẳm, tận cùng, tuyệt đối, mà không bị màu mè, làm dáng, lão hóa hay sến rớt khi Vũ dùng: bàng hoàng, tận cùng, dằn vặt, bơ vơ, cô đơn… Thơ Vũ và Vũ trẻ, thực sự, ở sự khao khát cái tuyệt đối và sự thất vọng quá sâu đó, nhưng không bao giờ mòn mỏi. Mòn mỏi là trạng thái đáng sợ nhất của đời sống.
Rất nhiều năm sau tôi không đọc thơ LQV nữa, khi tôi lên đại học, Vũ vẫn là một kỉ niệm, một mối tình, mà Lưu Quang Vũ lại là một cái tên kí dưới các bài thơ mà, khi người ta nói đến nhiều thì tôi thấy xa xôi.
Nhưng cái thành phố viển vông cay đắng u buồn ấy, thì mãi mãi còn đeo bám tôi như số phận. Tôi đã hoài niệm nó ngay khi chưa rời xa nó. Cũng như tôi bây giờ vẫn thường bị tách khỏi đời sống hiện tại bằng căn bệnh hoài niệm mãn tính này.
Sao những ngày này, một tiếng nói của bạn cũng làm tôi nhớ đến mềm lại cả không gian Hà Nội bụi bặm này, khi lá bay vàng mặt phố như bầy cá nhỏ đùa bỡn, bằng lăng bỗng muốn nổi loạn và chẳng còn gì đáng kể ngoài tình bạn và tình yêu, (và thơ.)
Tôi chưa tin có người nào viết được về thơ Vũ mà không giết đi thơ Vũ, hay làm một việc thừa. Và thể nào cũng có kẻ ghen tuông với tình yêu tôi dành cho Vũ.
12/05/2010
11 May, 2010
Những buổi chiều quạnh quẽ
Trong thành phố
Cư dân thành phố đều biết rằng những cặp tình nhân ở đây yêu nhau theo một luật bất thành văn. Khi màn đêm buông xuống, từng cặp từng cặp chui vào các tấm da thú dày móc trên những ngọn cây ven hồ, ven đường hay trong công viên. Trong những tấm da tối tăm an toàn đó, họ thì thầm trò chuyện, cấu chí, yêu đương, vùng vẫy, than khóc, nguyền rủa. Nhưng ngay khi tia sáng đầu tiên rọi đến, những tấm da thú của đêm khuya sẽ lặng lẽ chuyển sang dạng chất liệu trong suốt, cho đến khi sáng ngày, người ta chỉ còn thấy từng thân người đơn lẻ di chuyển trong thành phố như những kẻ hoàn toàn xa lạ.
3/2010
Một buổi chiều quạnh quẽ
A. là một văn sĩ mà người ta miêu tả rằng, hắn yếu đuối đến mức bất cứ ai cũng có thể nếu thích thì giết lúc nào được lúc ấy. Người ta nói rằng các khớp cơ của hắn cũng như những ốc vít lỏng lẻo bắt lấy thanh gỗ mục, có cả một ổ mọt bên trong, bất cứ một chấn động nào cũng là một nguy cơ làm rụng rời. Người ta nói rằng hắn được sinh ra trong ống nghiệm, mẹ hắn là một người đàn bà đau khổ bị chồng bỏ rơi, trở nên suy kiệt, lúc nào cũng khư khư ôm hắn trong lòng như ôm một chiếc bình dễ vỡ. Người ta nói rằng khi 20 tuổi, cái tuổi khỏe nhất, hắn cũng chẳng đánh lại được một con mèo ốm bẹp. Người ta thường kháo nhau, chỉ một cơn gió nhẹ cũng có thể làm hắn tan ra, vỡ lách tách. Người ta nói hắn cũng viết ra được vài lời mạnh mẽ, nhưng chẳng có gì đáng sợ, vì những từ ngữ hắn viết chỉ là từ ngữ mà thôi, chúng không có súng đạn, hay chúng là súng không đạn, chúng cứ nằm ngáp, nằm thở, nằm chờ đợi, nằm giận dữ hay buồn thương trên trang giấy, mãi mãi như thế.
Người ta cũng nói rằng, bản chất văn sĩ của hắn là một kiểu văn - sĩ - tuyệt - đối không biết gì đến đời sống, hắn chỉ là một thằng sách vở, và hắn ngây thơ, nhất là trong quan hệ với đàn bà. Có lần, vào một chiều quạnh quẽ, người ta thấy hắn rít lên trước một hồ nước như một con thỏ bị xiết cổ. Nhìn dưới hồ nước, người ta thấy ánh mắt hắn khiếp nhược và gương mặt tái nhợt trôi nổi lẫn với màu rong rêu xanh lè. Người ta nói một ả gái giang hồ vừa mời mọc hắn làm hắn hoảng sợ.
Tuy nhiên, tôi không bao giờ quên được thời khắc này: một tối mùa hè oi bức, hắn uống rượu rất say, vừa cười vừa nhìn mông lung ở trên đường, cho đến khi tôi phát hiện hắn dừng lại, dưới ngọn đèn đường vàng ệch, tôi thấy hắn nhặt lên từ đường phố một con chim sẻ đã chết, có lẽ bị trúng điện giật, hay mới tập bay nên rơi ngã, hay va quệt vào những làn xe trên đường. Tôi nín lặng chờ giây khắc hắn nâng con chim nhỏ trên tay, nhỏ nước mắt xót thương con vật xấu số. Nhưng thật khủng khiếp, hắn xé từng mảnh nhỏ, dứt từng cái lông chim rồi giật từng miếng, đưa lên miệng nhai và lúc thì phun phì phì, khi lại nuốt ực. Cuối cùng, hắn vuốt cổ xuôi xuống ngực, bước đi với gương mặt thỏa mãn.
Hôm sau, chập choạng chiều, hắn tìm tôi và nói rằng đêm qua hắn đã hiếp rồi xé từng mảnh thịt một ả mỡ màng ở nhà thổ, hắn đã thành đàn ông thực sự. Hắn nói một lúc nào có hứng hắn sẽ xé thịt tôi. Ngôn từ của hắn thẳng băng, mạnh mẽ, chính xác và ẩn chứa sự say sưa khoái hoạt, như có máu chảy giần giật ở trong.
Tôi hoảng sợ, thấy hắn như mang sẵn một khối thuốc nổ bạo lực. Tôi biết đó là một điều hoàn toàn nghiêm túc. Hắn là một nhà văn. Lúc này, tôi cảm thấy tất thảy những điều người ta nói về hắn đều sai, hắn đang đầy sức mạnh và hắn có thể khử tôi bất cứ khi nào, xé xác tôi, nhai nuốt và phun phì phì, và không chỉ tôi, chắc chắn những người khác khi một mình đối diện với hắn, với ngôn từ của hắn cũng sẽ hoảng sợ, quy phục hắn một cách phi lý, nhất là trong những buổi chiều quạnh quẽ.
05/2010
N.T
(Hic, thấy đăng ở blog vẫn thú vị hơn ở web:)
Cư dân thành phố đều biết rằng những cặp tình nhân ở đây yêu nhau theo một luật bất thành văn. Khi màn đêm buông xuống, từng cặp từng cặp chui vào các tấm da thú dày móc trên những ngọn cây ven hồ, ven đường hay trong công viên. Trong những tấm da tối tăm an toàn đó, họ thì thầm trò chuyện, cấu chí, yêu đương, vùng vẫy, than khóc, nguyền rủa. Nhưng ngay khi tia sáng đầu tiên rọi đến, những tấm da thú của đêm khuya sẽ lặng lẽ chuyển sang dạng chất liệu trong suốt, cho đến khi sáng ngày, người ta chỉ còn thấy từng thân người đơn lẻ di chuyển trong thành phố như những kẻ hoàn toàn xa lạ.
3/2010
Một buổi chiều quạnh quẽ
A. là một văn sĩ mà người ta miêu tả rằng, hắn yếu đuối đến mức bất cứ ai cũng có thể nếu thích thì giết lúc nào được lúc ấy. Người ta nói rằng các khớp cơ của hắn cũng như những ốc vít lỏng lẻo bắt lấy thanh gỗ mục, có cả một ổ mọt bên trong, bất cứ một chấn động nào cũng là một nguy cơ làm rụng rời. Người ta nói rằng hắn được sinh ra trong ống nghiệm, mẹ hắn là một người đàn bà đau khổ bị chồng bỏ rơi, trở nên suy kiệt, lúc nào cũng khư khư ôm hắn trong lòng như ôm một chiếc bình dễ vỡ. Người ta nói rằng khi 20 tuổi, cái tuổi khỏe nhất, hắn cũng chẳng đánh lại được một con mèo ốm bẹp. Người ta thường kháo nhau, chỉ một cơn gió nhẹ cũng có thể làm hắn tan ra, vỡ lách tách. Người ta nói hắn cũng viết ra được vài lời mạnh mẽ, nhưng chẳng có gì đáng sợ, vì những từ ngữ hắn viết chỉ là từ ngữ mà thôi, chúng không có súng đạn, hay chúng là súng không đạn, chúng cứ nằm ngáp, nằm thở, nằm chờ đợi, nằm giận dữ hay buồn thương trên trang giấy, mãi mãi như thế.
Người ta cũng nói rằng, bản chất văn sĩ của hắn là một kiểu văn - sĩ - tuyệt - đối không biết gì đến đời sống, hắn chỉ là một thằng sách vở, và hắn ngây thơ, nhất là trong quan hệ với đàn bà. Có lần, vào một chiều quạnh quẽ, người ta thấy hắn rít lên trước một hồ nước như một con thỏ bị xiết cổ. Nhìn dưới hồ nước, người ta thấy ánh mắt hắn khiếp nhược và gương mặt tái nhợt trôi nổi lẫn với màu rong rêu xanh lè. Người ta nói một ả gái giang hồ vừa mời mọc hắn làm hắn hoảng sợ.
Tuy nhiên, tôi không bao giờ quên được thời khắc này: một tối mùa hè oi bức, hắn uống rượu rất say, vừa cười vừa nhìn mông lung ở trên đường, cho đến khi tôi phát hiện hắn dừng lại, dưới ngọn đèn đường vàng ệch, tôi thấy hắn nhặt lên từ đường phố một con chim sẻ đã chết, có lẽ bị trúng điện giật, hay mới tập bay nên rơi ngã, hay va quệt vào những làn xe trên đường. Tôi nín lặng chờ giây khắc hắn nâng con chim nhỏ trên tay, nhỏ nước mắt xót thương con vật xấu số. Nhưng thật khủng khiếp, hắn xé từng mảnh nhỏ, dứt từng cái lông chim rồi giật từng miếng, đưa lên miệng nhai và lúc thì phun phì phì, khi lại nuốt ực. Cuối cùng, hắn vuốt cổ xuôi xuống ngực, bước đi với gương mặt thỏa mãn.
Hôm sau, chập choạng chiều, hắn tìm tôi và nói rằng đêm qua hắn đã hiếp rồi xé từng mảnh thịt một ả mỡ màng ở nhà thổ, hắn đã thành đàn ông thực sự. Hắn nói một lúc nào có hứng hắn sẽ xé thịt tôi. Ngôn từ của hắn thẳng băng, mạnh mẽ, chính xác và ẩn chứa sự say sưa khoái hoạt, như có máu chảy giần giật ở trong.
Tôi hoảng sợ, thấy hắn như mang sẵn một khối thuốc nổ bạo lực. Tôi biết đó là một điều hoàn toàn nghiêm túc. Hắn là một nhà văn. Lúc này, tôi cảm thấy tất thảy những điều người ta nói về hắn đều sai, hắn đang đầy sức mạnh và hắn có thể khử tôi bất cứ khi nào, xé xác tôi, nhai nuốt và phun phì phì, và không chỉ tôi, chắc chắn những người khác khi một mình đối diện với hắn, với ngôn từ của hắn cũng sẽ hoảng sợ, quy phục hắn một cách phi lý, nhất là trong những buổi chiều quạnh quẽ.
05/2010
N.T
(Hic, thấy đăng ở blog vẫn thú vị hơn ở web:)
08 May, 2010
Quảng cáo website
Mời bạn ghé thăm website của NT:
www.nhathuyen.net
Do mù IT, nên vẫn đang học cách sử dụng:).
Ở website này, bạn sẽ đọc được:
-một số tin tức về tình hình lao động của bản thân, (bao gồm cả sự nghiệp chiến đấu vì "tự do và ái tình" nếu có kết quả tốt đẹp trong tương lai), thông tin ngắn gọn về sách, những nhận xét tôi muốn chia sẻ,..
- Một phần thơ và truyện (cực) ngắn (mới), các tiểu luận mới, các bài phỏng vấn hoặc trò chuyện mà tôi thấy thích hoặc có ích...Các bài báo thì có lẽ lười update hơn, vì nhiều khi cũng không hiểu sao mình viết được báo:D.
- Một phần tôi rất muốn làm tốt là phần document, lưu trữ những bài viết hay của bạn bè hay đọc đâu đó, hay được chia sẻ về văn hóa, nghệ thuật, đời sống, lịch sử,ect... Tôi sẽ để cả dạng file PDF để bạn đọc tiện dowload nếu thích, chỉ xin vui lòng ghi nguồn nếu trích dẫn và đảm bảo quyền của tác giả, người cộng tác. Tôi cũng rất vui nếu bạn gửi tới tôi những tài liệu mà bạn muốn chia sẻ.
- Gallery với những bức ảnh tự chụp. Hứng thú của tôi là ảnh chân dung và ảnh đời sống hoặc thiên nhiên hoặc theo ý tưởng. Tuy nhiên, khả năng photoshop thì gần như vẫn là zero. Bạn photographer của tớ là vợ chồng nhà bạn Yellow (đang đam mê đốt tiền cho máy phim), người mẫu (nam) thành công nhất của mình đến giờ là Chiketo. Máy ảnh đang sử dụng là Kiss X, canon 400D hàng secondhand. Sic.
- Ngoài ra, tất nhiên có thể đọc blog này từ web.
Cảm ơn bạn dành chút thời gian chia sẻ cùng tôi. Tôi hi vọng đó là một website ít để nói về mình, mà nhiều hơn, là để tìm một không gian chia sẻ và nhất là mong kết nối với những người quan tâm đến văn chương,thơ ca, nghệ thuật, sách vở và tất cả những gì có thể:)
N.T
www.nhathuyen.net
Do mù IT, nên vẫn đang học cách sử dụng:).
Ở website này, bạn sẽ đọc được:
-một số tin tức về tình hình lao động của bản thân, (bao gồm cả sự nghiệp chiến đấu vì "tự do và ái tình" nếu có kết quả tốt đẹp trong tương lai), thông tin ngắn gọn về sách, những nhận xét tôi muốn chia sẻ,..
- Một phần thơ và truyện (cực) ngắn (mới), các tiểu luận mới, các bài phỏng vấn hoặc trò chuyện mà tôi thấy thích hoặc có ích...Các bài báo thì có lẽ lười update hơn, vì nhiều khi cũng không hiểu sao mình viết được báo:D.
- Một phần tôi rất muốn làm tốt là phần document, lưu trữ những bài viết hay của bạn bè hay đọc đâu đó, hay được chia sẻ về văn hóa, nghệ thuật, đời sống, lịch sử,ect... Tôi sẽ để cả dạng file PDF để bạn đọc tiện dowload nếu thích, chỉ xin vui lòng ghi nguồn nếu trích dẫn và đảm bảo quyền của tác giả, người cộng tác. Tôi cũng rất vui nếu bạn gửi tới tôi những tài liệu mà bạn muốn chia sẻ.
- Gallery với những bức ảnh tự chụp. Hứng thú của tôi là ảnh chân dung và ảnh đời sống hoặc thiên nhiên hoặc theo ý tưởng. Tuy nhiên, khả năng photoshop thì gần như vẫn là zero. Bạn photographer của tớ là vợ chồng nhà bạn Yellow (đang đam mê đốt tiền cho máy phim), người mẫu (nam) thành công nhất của mình đến giờ là Chiketo. Máy ảnh đang sử dụng là Kiss X, canon 400D hàng secondhand. Sic.
- Ngoài ra, tất nhiên có thể đọc blog này từ web.
Cảm ơn bạn dành chút thời gian chia sẻ cùng tôi. Tôi hi vọng đó là một website ít để nói về mình, mà nhiều hơn, là để tìm một không gian chia sẻ và nhất là mong kết nối với những người quan tâm đến văn chương,thơ ca, nghệ thuật, sách vở và tất cả những gì có thể:)
N.T
07 May, 2010
Ăn vặt
Đọc tạp văn Nguyễn Việt Hà bớt mỏi hơn đọc tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà, tạp văn cũng như đồ ăn vặt của phụ nữ, bỏ trong túi xách, buồn cũng nhí nhách được. Nó là thể loại vô thể loại, như đứa con không rõ bố mẹ mình là (những) ai, dễ nuôi, dễ nhân giống, nhưng khó thành danh. Nguyễn Việt Hà cũng tự nhận mình là tay “tán nhảm lắm mồm”, nhưng cái sự lảm nhảm của gã, từ tập “Mặt của đàn ông” (xnb Hội nhà văn, 2008) đến “Đàn bà uống rượu” (NXb Văn học, 2010), thấy chưa nhạt đi mà đậm hơn, sâu sắc nước đời hơn, giễu cợt hơn, và đọc được nhiều hơn.
Nhân vật nhìn chung vẫn gồm lại: đàn ông và đàn bà, làm diễn viên, văn sĩ, thương gia, thầy giáo…, với không gian đô thị, với thời gian bây giờ, mỗi loại lại chứa nhiều tập con hành xử của đàn ông – đàn bà với mình, với người, với thiên nhiên mưa gió bốn mùa…. Từ đó bày ra một bề mặt đô thị nhốn nháo, ngược xuôi giá trị, nhiều nghịch lý, ê hề cái phàm tục, dấp dính cả vào cái cao thượng ít ỏi… Trong cái dung dịch phàm tục đó, cuốn trước, gã thả những tranh vẽ “mặt của đàn ông”, cuốn sau lại phơi một seri thiếu nữ, thiếu phụ.
(Tuy nhiên, xin mở ngoặc, đàn ông đọc hai tập tạp văn này được an ủi nhiều hơn đàn bà, thấy mình “nghĩa hiệp” hành sự hôn nhân như “chuyện không đáng làm mà không thể không làm”. Cái đề tài xoay đi xoay lại không xong này ắt làm phật lòng nhiều đàn bà hiện đại, bực mình như bị soi nhầm phải gương xấu, cái gương không biết nịnh mặt, vì hôn nhân cũng là cái hạn không giải được của bậc nữ nhi trót nông nổi tin vào ái tình phút chốc và mơ mộng về tuyệt đối.
Sách “Liêu trai chí dị”, phần tục biên, kể rằng: Một đạo sĩ mù khét tiếng có tài ngửi văn đoán người, đoán biết được xứ sở của người viết. Một ngày kia, người ta đem đến một số sách viết về đàn bà (của cả đàn ông và đàn bà). Đốt một ít trang của Miên Miên, Vệ Tuệ… ông bảo ngay “của Tàu”, vì mùi nhục dục suồng sã. Sách của Duras, ông nói có mùi tự mê, kiểu của Tây. Đến khi đem sách của Việt Nam ra, ông nhăn mũi đánh hơi rồi phân hai loại, ha hả: đích thị về đàn bà Việt. Hỏi cụ thể, ông bảo: loại đàn ông viết về đàn bà có mùi sợ hãi lẫn cay đắng mà tự mãn, loại đàn bà viết về đàn bà có mùi ảo tưởng mà nô lệ lẫn đau đớn. Hỏi tiếp liệu có cuộc nổi dậy đòi nữ quyền hoành tráng nào không, đạo sĩ cả cười mà không đáp).
Nguyễn Việt Hà xoay, dựng, ngắm nghía… chuyện người, chuyện mình, với cái nhìn từ bên ngoài, chứ không tự ru mình, không day dứt dằn vặt, không bày đủ hỉ nộ ái ố riêng tư, không ngao ngán đạo mạo. Nhưng gã không thể không bình luận và giễu cợt. Cái giọng giễu cợt đặc trưng qua cách dùng từ ngữ lung linh hoa mĩ cố tình, gieo vần, đảo tính từ nhấn mạnh, cách khóa bằng câu kết – nhiều câu “nhớ đời”, một kiểu khẩu văn lai thơ đậm đặc chất dân gian đương đại, cách lập ý ngược đời kiểu thơ Nguyễn Bảo Sinh. Gã ham truy nguyên, nhiều chữ, lắm nghĩa, đủ loại Đông Tây lẫn giai thoại đời thường, như kẻ sĩ nhẩn nha bình luận sự đời, như người kể chuyện trong cuốn sách của Thackerey đang quan sát và vẽ lại một “hội chợ phù hoa”.
Gã nhiều khi cũng bâng khuâng, vì cái đẹp, nhưng có lẽ buồn rầu nhiều hơn, bởi đó là những cái đẹp đã thất truyền hoặc đang biến thái khó lường.
May cho người đọc, Nguyễn Việt Hà không có vẻ sùng cổ. Cho nên tạp văn của gã, ngoài quan điểm về hôn nhân làm đàn bà đọc thấy chút bực mình, không bị xếp cùng loại với những cái được ví với “cụ già chống gậy vừa đi vừa thở dài” (nhất là khi người viết tạp văn tuổi còn trẻ), vốn cũng kha khá trên các báo. Giọng giễu cợt không bị ngấm chất trầm tư sâu sắc một tí mơ mộng một tí hoài niệm một tí, bâng kho-âng một tí, sặc sụa triết lý, đeo nặng nỗi buồn bất lực hay trách nhiệm phê phán, lên án cái bất công nhố nhăng ( lên án gì? khi mình cũng là một phần tử của cái nhố nhăng, cái hội chợ phù hoa đó).
Tạp văn hình như đang được thời, sau khi các nhà văn (e rằng) hết được mùa tiểu thuyết (Việt). Nhưng có bạn đọc đã nói vui để “cảnh giác” những nhà viết tạp văn, cũng dùng hình tượng Nguyễn Việt Hà đã viết trong một phiếm luận về phở: đã làm hàng phở, thì hãy cảnh giác nhất quyết không thể vì thị trường mà giương biển “phở, cháo, bún, miến, các món xào”.
12/4/2010
Nhã Thuyên
p/s: Ăn vặt nên nhiều khi ăn ngon không phải do đồ ăn ngon, mà có thể do trời đẹp:)
Nhân vật nhìn chung vẫn gồm lại: đàn ông và đàn bà, làm diễn viên, văn sĩ, thương gia, thầy giáo…, với không gian đô thị, với thời gian bây giờ, mỗi loại lại chứa nhiều tập con hành xử của đàn ông – đàn bà với mình, với người, với thiên nhiên mưa gió bốn mùa…. Từ đó bày ra một bề mặt đô thị nhốn nháo, ngược xuôi giá trị, nhiều nghịch lý, ê hề cái phàm tục, dấp dính cả vào cái cao thượng ít ỏi… Trong cái dung dịch phàm tục đó, cuốn trước, gã thả những tranh vẽ “mặt của đàn ông”, cuốn sau lại phơi một seri thiếu nữ, thiếu phụ.
(Tuy nhiên, xin mở ngoặc, đàn ông đọc hai tập tạp văn này được an ủi nhiều hơn đàn bà, thấy mình “nghĩa hiệp” hành sự hôn nhân như “chuyện không đáng làm mà không thể không làm”. Cái đề tài xoay đi xoay lại không xong này ắt làm phật lòng nhiều đàn bà hiện đại, bực mình như bị soi nhầm phải gương xấu, cái gương không biết nịnh mặt, vì hôn nhân cũng là cái hạn không giải được của bậc nữ nhi trót nông nổi tin vào ái tình phút chốc và mơ mộng về tuyệt đối.
Sách “Liêu trai chí dị”, phần tục biên, kể rằng: Một đạo sĩ mù khét tiếng có tài ngửi văn đoán người, đoán biết được xứ sở của người viết. Một ngày kia, người ta đem đến một số sách viết về đàn bà (của cả đàn ông và đàn bà). Đốt một ít trang của Miên Miên, Vệ Tuệ… ông bảo ngay “của Tàu”, vì mùi nhục dục suồng sã. Sách của Duras, ông nói có mùi tự mê, kiểu của Tây. Đến khi đem sách của Việt Nam ra, ông nhăn mũi đánh hơi rồi phân hai loại, ha hả: đích thị về đàn bà Việt. Hỏi cụ thể, ông bảo: loại đàn ông viết về đàn bà có mùi sợ hãi lẫn cay đắng mà tự mãn, loại đàn bà viết về đàn bà có mùi ảo tưởng mà nô lệ lẫn đau đớn. Hỏi tiếp liệu có cuộc nổi dậy đòi nữ quyền hoành tráng nào không, đạo sĩ cả cười mà không đáp).
Nguyễn Việt Hà xoay, dựng, ngắm nghía… chuyện người, chuyện mình, với cái nhìn từ bên ngoài, chứ không tự ru mình, không day dứt dằn vặt, không bày đủ hỉ nộ ái ố riêng tư, không ngao ngán đạo mạo. Nhưng gã không thể không bình luận và giễu cợt. Cái giọng giễu cợt đặc trưng qua cách dùng từ ngữ lung linh hoa mĩ cố tình, gieo vần, đảo tính từ nhấn mạnh, cách khóa bằng câu kết – nhiều câu “nhớ đời”, một kiểu khẩu văn lai thơ đậm đặc chất dân gian đương đại, cách lập ý ngược đời kiểu thơ Nguyễn Bảo Sinh. Gã ham truy nguyên, nhiều chữ, lắm nghĩa, đủ loại Đông Tây lẫn giai thoại đời thường, như kẻ sĩ nhẩn nha bình luận sự đời, như người kể chuyện trong cuốn sách của Thackerey đang quan sát và vẽ lại một “hội chợ phù hoa”.
Gã nhiều khi cũng bâng khuâng, vì cái đẹp, nhưng có lẽ buồn rầu nhiều hơn, bởi đó là những cái đẹp đã thất truyền hoặc đang biến thái khó lường.
May cho người đọc, Nguyễn Việt Hà không có vẻ sùng cổ. Cho nên tạp văn của gã, ngoài quan điểm về hôn nhân làm đàn bà đọc thấy chút bực mình, không bị xếp cùng loại với những cái được ví với “cụ già chống gậy vừa đi vừa thở dài” (nhất là khi người viết tạp văn tuổi còn trẻ), vốn cũng kha khá trên các báo. Giọng giễu cợt không bị ngấm chất trầm tư sâu sắc một tí mơ mộng một tí hoài niệm một tí, bâng kho-âng một tí, sặc sụa triết lý, đeo nặng nỗi buồn bất lực hay trách nhiệm phê phán, lên án cái bất công nhố nhăng ( lên án gì? khi mình cũng là một phần tử của cái nhố nhăng, cái hội chợ phù hoa đó).
Tạp văn hình như đang được thời, sau khi các nhà văn (e rằng) hết được mùa tiểu thuyết (Việt). Nhưng có bạn đọc đã nói vui để “cảnh giác” những nhà viết tạp văn, cũng dùng hình tượng Nguyễn Việt Hà đã viết trong một phiếm luận về phở: đã làm hàng phở, thì hãy cảnh giác nhất quyết không thể vì thị trường mà giương biển “phở, cháo, bún, miến, các món xào”.
12/4/2010
Nhã Thuyên
p/s: Ăn vặt nên nhiều khi ăn ngon không phải do đồ ăn ngon, mà có thể do trời đẹp:)
30 April, 2010
Thơ đi giang hồ
Các nhà thơ thời đi đâu?
Các nhà thơ, thời (phải ) đi giang hồ.
Có lần, trong một cuộc nhậu đàm, một ông chủ nhà sách chỉ tay người ngồi cạnh: Đây mới là nhà thơ thứ thiệt! Câu chuyện bông phèng bày ra vô số giai thoại của thi sĩ này, mà nếu nhìn bề ngoài, thì như người ta hay lấy cái vẻ ngoài của nhà thơ mà ví von vè sự nhếch, (không muốn dùng từ “nhếch nhác”). Hắn là kẻ lang bạt kì hồ, đến mức, một lần ra bến xe Giáp Bát, hỏi tay chủ xe “xe đi đâu” “Đà Nẵng”, thế là lên xe luôn, làm phụ xe rong ruổi nửa năm sau mới về, vợ không đi tìm, không kêu ca một tiếng! (Bà vợ thật tuyệt vời!). Lần khác, hắn say la đà rồi nhảy lên bàn đọc thơ trình diễn lẫn gào thét. (Đó mới là thơ trình diễn thứ thiệt! – Chủ nhà sách bình luận – dù Hội nhà văn nhất quyết không cho hắn tham gia sân thơ trình diễn mấy năm xưa).
Tôi cũng chứng kiến nhiều lần bia vào thơ ra, thơ càng ra nhiều càng phải thêm bia, thêm một tí tụng ca, thì sự cao hứng của nhà thơ, với bản tính tự mê, có thể bay lên đến chín tầng trời được. Cũng nên yêu chiều các thi sĩ, bởi trong đời sống hàng ngày, vốn người ta kiêng nói chuyện thơ thẩn. Mà có phải lúc nào cũng được nhậu tưng bừng, với gái, với lời ca tụng đâu?
Các nhà thơ đi giang hồ, đã đành, nhưng thơ đi giang hồ mới là thơ đắc dụng nhất.
Lần khác, trong một sáng cf đàm, một nhà thơ cao hứng nói: Các nhà thơ xứ Bắc kì, sẽ còn lại Nguyễn Bảo Sinh. Mọi thứ thơ cao siêu đạo mạo rồi sẽ chết đi, còn lại chút gì đáng kể đó chính là những câu thơ này. Nguyễn Bảo Sinh, nhà thơ nổi danh với khách sạn chó, bệnh viện chó tất nhiên đã chinh phục người đọc nhiều lứa tuổi với những câu thơ này:
“Khi mê tình chỉ là tình
Tỉnh ra mới biết trong tình có dâm
Khi mê dâm chỉ là dâm
Tỉnh ra mới biết trong dâm có tình”
Đại loại vậy.
Nguyễn Huy Thiệp ắt mê các tay thơ giang hồ này, nhiều truyện ngắn đã làm mông lung thêm hình ảnh Nguyễn Bính, Bảo Sinh, Đồng Đức Bốn….
Trong xứ blog này ắt nhiều người đã từng làm thơ hay là nhà thơ, hay vẫn là nhà thơ. Nhưng thơ như tình đầu, say đắm đấy mà thường không ăn đời ở kiếp, nên sau một thời gian mơ mộng thành Rimbaud, các nhà thơ lại lui về ẩn dật. Nhưng chắc chắn một phần đời đẹp nhất của họ, say sưa nhất của họ đã gắn với thơ.
Trong tủ sách ở nhà tôi, phần quý nhất là Thơ, nếu có xảy ra tranh chấp hay mường tượng cảnh ly biệt, thì cái phần khó xử nhất là chia số sách thơ ra làm hai như thế nào.
Dù thế nào, đã trót dan díu, thì không thể một sớm một chiều mà dứt lìa nhau được. Thơ chứ có phải là gái hay trai đâu mà nói bỏ là bỏ được ngay! Hic.
Chỉ ao ước có đôi ba câu thơ được đi giang hồ, ấy là mãn nguyện, hihi
Các nhà thơ, thời (phải ) đi giang hồ.
Có lần, trong một cuộc nhậu đàm, một ông chủ nhà sách chỉ tay người ngồi cạnh: Đây mới là nhà thơ thứ thiệt! Câu chuyện bông phèng bày ra vô số giai thoại của thi sĩ này, mà nếu nhìn bề ngoài, thì như người ta hay lấy cái vẻ ngoài của nhà thơ mà ví von vè sự nhếch, (không muốn dùng từ “nhếch nhác”). Hắn là kẻ lang bạt kì hồ, đến mức, một lần ra bến xe Giáp Bát, hỏi tay chủ xe “xe đi đâu” “Đà Nẵng”, thế là lên xe luôn, làm phụ xe rong ruổi nửa năm sau mới về, vợ không đi tìm, không kêu ca một tiếng! (Bà vợ thật tuyệt vời!). Lần khác, hắn say la đà rồi nhảy lên bàn đọc thơ trình diễn lẫn gào thét. (Đó mới là thơ trình diễn thứ thiệt! – Chủ nhà sách bình luận – dù Hội nhà văn nhất quyết không cho hắn tham gia sân thơ trình diễn mấy năm xưa).
Tôi cũng chứng kiến nhiều lần bia vào thơ ra, thơ càng ra nhiều càng phải thêm bia, thêm một tí tụng ca, thì sự cao hứng của nhà thơ, với bản tính tự mê, có thể bay lên đến chín tầng trời được. Cũng nên yêu chiều các thi sĩ, bởi trong đời sống hàng ngày, vốn người ta kiêng nói chuyện thơ thẩn. Mà có phải lúc nào cũng được nhậu tưng bừng, với gái, với lời ca tụng đâu?
Các nhà thơ đi giang hồ, đã đành, nhưng thơ đi giang hồ mới là thơ đắc dụng nhất.
Lần khác, trong một sáng cf đàm, một nhà thơ cao hứng nói: Các nhà thơ xứ Bắc kì, sẽ còn lại Nguyễn Bảo Sinh. Mọi thứ thơ cao siêu đạo mạo rồi sẽ chết đi, còn lại chút gì đáng kể đó chính là những câu thơ này. Nguyễn Bảo Sinh, nhà thơ nổi danh với khách sạn chó, bệnh viện chó tất nhiên đã chinh phục người đọc nhiều lứa tuổi với những câu thơ này:
“Khi mê tình chỉ là tình
Tỉnh ra mới biết trong tình có dâm
Khi mê dâm chỉ là dâm
Tỉnh ra mới biết trong dâm có tình”
Đại loại vậy.
Nguyễn Huy Thiệp ắt mê các tay thơ giang hồ này, nhiều truyện ngắn đã làm mông lung thêm hình ảnh Nguyễn Bính, Bảo Sinh, Đồng Đức Bốn….
Trong xứ blog này ắt nhiều người đã từng làm thơ hay là nhà thơ, hay vẫn là nhà thơ. Nhưng thơ như tình đầu, say đắm đấy mà thường không ăn đời ở kiếp, nên sau một thời gian mơ mộng thành Rimbaud, các nhà thơ lại lui về ẩn dật. Nhưng chắc chắn một phần đời đẹp nhất của họ, say sưa nhất của họ đã gắn với thơ.
Trong tủ sách ở nhà tôi, phần quý nhất là Thơ, nếu có xảy ra tranh chấp hay mường tượng cảnh ly biệt, thì cái phần khó xử nhất là chia số sách thơ ra làm hai như thế nào.
Dù thế nào, đã trót dan díu, thì không thể một sớm một chiều mà dứt lìa nhau được. Thơ chứ có phải là gái hay trai đâu mà nói bỏ là bỏ được ngay! Hic.
Chỉ ao ước có đôi ba câu thơ được đi giang hồ, ấy là mãn nguyện, hihi
25 April, 2010
Thèm cuộc sống
Lâu rồi không đọc tử tế một cái gì, đọc tử tế, nghĩa là có thể ngâm nga dông dài, (giai – có thể có hoặc không) và café ngồi cạnh, trời có (ít nhất một tí )gió ở ngoài thổi vào, ở trên cao thổi xuống, ở trong lòng thổi ra, thấy một ít lá cây đu đưa và vài ba gợn sóng hồ, thấy một ít mặt người giãn ra trên đường phố thưa thưa, lúc ấy, văn chương mới là cái gì khả dĩ có thể nhấm nháp được, không đến nỗi quá đắng, quá nhiều bóng tối, quá gây kinh hãi.
May, lúc đọc Ngô Phan Lưu không phải tâm trạng khi điên. Cao hứng quá, tin chắc văn xuôi Ngô Phan Lưu đáng kể tới hơn cả trong số những gì là văn xuôi đã đọc lõm bõm thời gian vừa rồi. Dù người ta phát hiện lão nông viết văn sành điệu này từ lâu lắc rồi! Nhưng khi thấy trên talawas, lười. Thấy được giải báo văn nghệ, lười. Thấy in (đến mấy tập) sách, vẫn lười. Vẫn tưởng mình giờ cảm hứng đọc văn chương bị đơ rồi, đã có tham vọng chuyển sang nghiên cứu từ điển và sách lịch sử.
Đọc Ngô Phan Lưu có cái thú vị như lần đầu đọc Bùi Hiển, lần đầu đọc Tô Hòai kể chuyện quê, giật mình vì quả thật, “người nhà quê” vẫn là một bí mật với tất thảy chúng ta, hay cá nhân hơn, với tôi, và hơn mười năm thơ ấu ở một làng quê nhỏ đồng bằng Bắc Bộ đến giờ vẫn là một nhớ nhung kì lạ, dằn vặt và lại nhiều mơ mộng.
Thực, “làng quê thì mênh mông”. Tôi vẫn biết một lúc nào đó, mình sẽ viết về làng quê, về nông thôn, dù tôi luôn thấy mình như một kẻ không gốc gác, không quê hương, nhà cửa. Ngay cả cái gọi là “quê xưa” ấy, cũng như không phải.
Bạn nói: “Cậu viết về làng đi. Nghe cậu kể chuyện làng, phát khiếp.”
Người ta kêu không ai viết về nông thôn!
Cười không cần ra nước mắt, mà vẫn thấy nhói, và lại thấy chan chứa trìu mến và dung nhận cuộc sống. Cái phẩm chất dân chủ của ngôn từ mà bao nhà cách mạng thi ca phải lên tiếng, bao kẻ bất mãn vì quyền tự do ngôn luận (ở Việt Nam) u uất xả bung (hay chửi vung) thì tôi tìm thấy trong văn Ngô Phan Lưu.
Thật đáng thèm (cuộc sống).
May, lúc đọc Ngô Phan Lưu không phải tâm trạng khi điên. Cao hứng quá, tin chắc văn xuôi Ngô Phan Lưu đáng kể tới hơn cả trong số những gì là văn xuôi đã đọc lõm bõm thời gian vừa rồi. Dù người ta phát hiện lão nông viết văn sành điệu này từ lâu lắc rồi! Nhưng khi thấy trên talawas, lười. Thấy được giải báo văn nghệ, lười. Thấy in (đến mấy tập) sách, vẫn lười. Vẫn tưởng mình giờ cảm hứng đọc văn chương bị đơ rồi, đã có tham vọng chuyển sang nghiên cứu từ điển và sách lịch sử.
Đọc Ngô Phan Lưu có cái thú vị như lần đầu đọc Bùi Hiển, lần đầu đọc Tô Hòai kể chuyện quê, giật mình vì quả thật, “người nhà quê” vẫn là một bí mật với tất thảy chúng ta, hay cá nhân hơn, với tôi, và hơn mười năm thơ ấu ở một làng quê nhỏ đồng bằng Bắc Bộ đến giờ vẫn là một nhớ nhung kì lạ, dằn vặt và lại nhiều mơ mộng.
Thực, “làng quê thì mênh mông”. Tôi vẫn biết một lúc nào đó, mình sẽ viết về làng quê, về nông thôn, dù tôi luôn thấy mình như một kẻ không gốc gác, không quê hương, nhà cửa. Ngay cả cái gọi là “quê xưa” ấy, cũng như không phải.
Bạn nói: “Cậu viết về làng đi. Nghe cậu kể chuyện làng, phát khiếp.”
Người ta kêu không ai viết về nông thôn!
Cười không cần ra nước mắt, mà vẫn thấy nhói, và lại thấy chan chứa trìu mến và dung nhận cuộc sống. Cái phẩm chất dân chủ của ngôn từ mà bao nhà cách mạng thi ca phải lên tiếng, bao kẻ bất mãn vì quyền tự do ngôn luận (ở Việt Nam) u uất xả bung (hay chửi vung) thì tôi tìm thấy trong văn Ngô Phan Lưu.
Thật đáng thèm (cuộc sống).
31 July, 2009
Sau huyền thoại
Trái tim và Danko
Danko móc trái tim mình ra, trái tim bốc cháy như ngọn đuốc lớn, và rùng rùng những thân người chuyển động trong vùng tối tăm đặc xịt của thảo nguyên gió rít theo ngọn lửa – trái tim chàng, cuồng nhiệt như đoàn sùng tín.
Chói loà ánh sáng, mặt trời lên, đoàn người vẫn rùng rùng chuyển di trong rừng rực huyễn tưởng, không ai biết đó là ánh của mặt trời. Không ai biết Danko đã bị thiêu đốt bởi chính trái tim cuồng nhiệt của chàng và bỏ xác giữa cuộc hành trình.
Trái Tim, chẳng ai sở hữu mi, chẳng bao giờ mi thuộc về kẻ hiến mình, mi chỉ là một biểu tượng nghiệp chướng của loài người, một từ ngữ không sao thiêu rụi được.
06.05.2009
Sau huyền thoại
Hắn ngồi xuôi vai nhìn tôi, xa lạ và thân thuộc, cách con thú nhìn lại con mồi đã là của nó; hết sức yên tâm, con thú tôi nằm dài trễ nải trong bóng nắng đổ thành vết dầu loang trước mặt của một trưa trong vắt huyền thoại sau cuộc tháo chạy tưởng đến kiệt sức, như thể mình là công chúa hoá hình thành con nai trốn chạy quái vật si tình. Giờ đây, bóng nắng thân thiết với tôi đến nỗi, cơ hồ trong im lặng, tôi thấy cả những lay động run rẩy an ủi một lần chót, vuốt ve làn da tôi mát như thạch. Và buồn bã lan toả như sóng, vỗ về khoảng không bọc hai kẻ vừa qua cơn điên cuồng lao lực rượt đuổi và tháo chạy, nhưng sự xa xôi của khoảng cách cứ loãng mãi ra khi cơn phấn khích và hoảng loạn đã qua. Hai kẻ cùng nhau một hành trình, giờ một kẻ đã ngồi yên tạo thành vệt bóng đổ chồng khít lên một thân hình nằm dài bất động.
24.04.2009
Nhà thơ
Nàng dang hai cánh tay gầy và dài vẫy như chim. Nàng muốn bay. Muốn có một người bay cùng. Cùng bay. Nàng thấy chàng mỉm cười. Nàng nhắm mắt. Hai cánh tay chàng sải rộng hơn, che chở cho cánh bay của nàng. Hai cánh tay chàng hớt những bóng nắng đầu tiên rải mật lên nàng rượi rượi vào mỗi ban mai và hứng hết giá băng của đêm sương, không kể ngày mưa nắng. Ở dưới cánh bay chàng, nàng hân hoan cùng câu chữ. Nàng rải thơ xuống những vùng họ bay qua, đôi khi chúng trôi theo một dòng sông, đôi khi thành mưa trên đồng, đôi khi là cỏ dại, đôi khi lại là một loài độc dược. Đôi khi, họ vừa bay vừa làm tình. Bộ dạng nàng thường có vẻ xơ xác và rũ rượi, nhưng lúc nào nàng cũng cuồng say hân hoan trong tâm tưởng.
Bằng mọi cách, dù biết trước kết thúc của truyền thuyết, nàng đòi theo bóng của Icarius. Nhưng (đồng bóng và ích kỉ như tất cả các thi sĩ), nàng đòi cái quyền không bay một mình, cho đến khi họ cùng chảy thành mật dưới sức nóng của mặt trời. Rồi có lẽ, người ta sẽ lại nhìn (ch)nàng như một bi kịch.
04.01.2009
Subscribe to:
Posts (Atom)